vanban.org

Bản án 183/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của bà Gvề việc tính lãi chậm trả.

Chấp nhận yêu cầu của bên nguyên đơn. Buộc bà Nguyễn Thị Mỹ Ph phải trả bà Võ Thị G 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng). Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người đư… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Bà Võ Thị G yêu cầu bà Nguyễn Thị Mỹ Ph phải trả nợ"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của bà Gvề việc tính lãi chậm trả.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HOÀI NHƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 183/2018/DS-ST
Ngày 12-12-2018
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vinh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phan Á

Bà Ngô Thị Thúy Hồng.

- Thư ký phiên toà: Bà Huỳnh Thị Xuân Diệu - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hoài Nhơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Nhơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Ly - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 12 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoài Nhơn tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 165/2018/TLST-DS ngày 24 tháng 10 năm 2018 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 115/2018/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 11 năm 2018, giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Bà Võ Thị G, sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn KGN, xã HH, huyện HN, tỉnh BĐ. (có mặt)

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ Ph, sinh năm 1969; địa chỉ: Thôn KGT, xã HH, huyện HN, tỉnh BĐ (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn bà Võ Thị G trình bày: Tháng 4/ 2014 bà Ph có mượn của bà 10.000.000 đồng, hẹn 02 tháng sau sẽ trả. Thời gian qua bà nhiều lần đòi nợ, bà Ph trả được tổng cộng 7.000.000 đồng, còn nợ 3.000.000 đồng đến nay chưa trả. Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Ph phải trả ngay cho bà 3.000.000 đồng, còn tiền lãi chậm trả bà xin rút không yêu cầu Tòa án giải quyết nữa.

- Bị đơn bà Nguyễn Thị Mỹ Ph trình bày: Trong năm 2014 bà có mượn của bà Gái 10.000.000 đồng, thời gian qua bà đã trả được 7.000.000 đồng, hiện còn còn nợ 3.000.000 đồng. Chồng bà đi biển cho gia đình bà Gái, bà Gái có hứa khi lãnh tiền dầu bù lỗ bà sẽ chia cho ít nhiều, do đó bà yêu cầu bà Gái để cấn trừ số nợ khi chia tiền dầu bù lỗ cho chồng bà.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Nhơn phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định của pháp luật. Về giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bên nguyên đơn buộc bà Ph phải trả cho bà G số tiền 3.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về áp dụng pháp luật tố tụng: Tranh chấp giữa bà G và bà Ph là tranh chấp về giao dịch dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại thôn KGT, xã HH, huyện HN, tỉnh BĐ, do đó Tòa án nhân dân huyện Hoài Nhơn thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về áp dụng pháp luật nội dung: Sự kiện pháp lý xảy ra vào tháng 4/2014, vì vậy cần áp dụng Bộ luật dân sự 2005 để giải quyết vụ án.

- Về yêu cầu tính lãi chậm trả: Bà G đã tự nguyện xin rút, không yêu cầu Tòa án giải quyết nữa và được Hội đồng xét xử chấp nhận, đình chỉ xét xử đối với yêu cầu này là có căn cứ và đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về yêu cầu trả nợ: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay bà Ph đều thừa nhận bà có mượn của bà G 10.000.000 đồng, đã trả được 7.000.000 đồng, hiện còn còn nợ 3.000.000 đồng như bà G trình bày. Nhưng bà Ph có yêu cầu số nợ này bà sẽ trả khi chồng bà được chia tiền dầu bù lỗ. Yêu cầu của bà Ph không được bà G chấp nhận, vì chồng bà Phượng đi biển cho gia đình bà Gái, đã được thanh toán sòng phẳng xong, không có liên quan gì đến số nợ này. Xét thấy yêu cầu về trả nợ của bà Ph là không có căn cứ, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bà Ph phải trả ngay cho bà G 3.000.000 đồng là có căn cứ và đúng theo quy định tại Điều 471 và khoản 1 Điều 474 Bộ luật dân sự 2005.

Án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên án phí dân sự sơ thẩm bà Ph phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 471, khoản 1 Điều 474 Bộ luật dân sự 2005; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Tuyên xử:

1. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của bà Gvề việc tính lãi chậm trả.

2. Chấp nhận yêu cầu của bên nguyên đơn. Buộc bà Nguyễn Thị Mỹ Ph phải trả bà Võ Thị G 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Mỹ Ph phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) sung vào công quỹ Nhà nước. Hoàn trả lại cho bà Võ Thị G 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0008183 ngày 24/10/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Nhơn.

Bà G, bà Ph có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để Toà án nhân dân tỉnh BĐ xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế th i hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ