vanban.org

Bản án 183/2017/HSST — Hình sự

TAND TX. Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Tuyên án 27/12/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Liêu Minh T và Liêu Minh Đ phạm tội “Cố gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Liêu Minh Đ 09 (chín) năm tù; thời hạn tù tính t ngày 12/6/2017. Xử phạt bị cáo Liêu Minh T 07 (bảy) năm tù; thời hạn tù tính t ngày 12/6/2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Liêu Minh Đ và đồng phạm - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Liêu Minh T và Liêu Minh Đ phạm tội “Cố gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật H nh sự xử phạt; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 104 Bộ luật H nh sự xử phạt
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TÂN UYÊN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 183/2017/HSST
Ngày: 27-12-2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Võ Thành Hiệp.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đào Văn Nô;

2. Ông Lê Quang Xẹt.

- Thư ký phiên toà: Bà Võ Thị Lê - Thư Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên t nh B nh Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Trung Kiểm sát viên.

Vào ngày 27 tháng 12 năm 2017; tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên t nh B nh Dương ti n hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án h nh sự thụ l số 172/2017/HSST ngày 27 tháng 11 năm 2017 theo Quy t định đưa vụ án ra xét xử số 195/2017/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 12 năm 2017 đối với các bị cáo:

Liêu Minh Đ sinh năm 1991, tại Sóc Trăng; nơi đăng hộ hẩu thường trú: Ấp T, xã A huyện Đ t nh Sóc Trăng; chỗ ở: Khu phố T phường A thị xã D, t nh B nh Dương; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Khơ me; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: Lớp 7/12; nghề nghiệp: Công nhân; con ông Liêu H sinh năm 1968 và bà Châu Thị H, sinh năm 1968; bị cáo có 05 anh chị em lớn sinh năm 1986, nhỏ sinh năm 1996 (là bị cáo Tường); vợ tên Đinh Thị Hoàng T sinh năm 1989; bị cáo có 01 người con sinh năm 2017; tiền án: Không; tiền sự: Không; tạm gi tạm giam t ngày 12/6/2017 cho đ n nay. Có mặt.

Liêu Minh T sinh năm 1996, tại Sóc Trăng; nơi đăng hộ hẩu thường trú: Ấp T, xã A huyện Đ t nh Sóc Trăng; chỗ ở: Khu phố T phường A thị xã D, t nh B nh Dương; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Khơ me; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; nghề nghiệp: Công nhân; con ông Liêu H sinh năm 1968 và bà Châu Thị H sinh năm 1968; bị cáo có 05 anh chị em lớn sinh năm 1986 nhỏ là bị cáo; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Không; tiền sự: Không; tạm gi tạm giam t ngày 12/6/2017 cho đ n nay. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo:

- Người bào ch a cho bị cáo Liêu Minh Đ: Ông Cao Ngọc L là Trợ giúp viên pháp l của Trung tâm Trợ giúp pháp l nhà nước t nh B nh Dương. Có mặt.

- Người bào ch a cho bị cáo Liêu Minh T: Ông Nguyễn Ti n D là Trợ giúp viên pháp l của Trung tâm Trợ giúp pháp l nhà nước t nh B nh Dương. Có mặt.

Người bị hại: Ông Phạm Văn S, sinh năm 1994; nơi đăng hộ hẩu thường trú: Ấp S, xã L huyện T t nh Sóc Trăng (đã ch t).

Người đại diện hợp pháp của người bị hại ông Phạm Văn S là: Bà Phạm Thị O sinh năm 1995; địa ch : Khu phố B phường K thị xã T t nh B nh Dương (em ruột bị hại). Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Thạch Q sinh năm 1970; chỗ ở hiện nay: Nhà trọ bà G hu phố C, phường P thị xã T t nh B nh Dương. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bà Thạch Thị N sinh năm 1994; chỗ ở hiện nay: Nhà trọ bà G hu phố C, phường P thị xã T t nh B nh Dương. Có mặt.

- Bà Nguyễn Thanh Ng sinh năm 1985; chỗ ở hiện nay: 31A/1 ấp N, xã H, thành phố B t nh Đồng Nai. Vắng mặt

- Ông Kiêu K sinh năm 1966; chỗ ở hiện nay: Nhà trọ bà P hu phố T, phường A thị xã D t nh B nh Dương. Có mặt.

NỘI DUNG V ÁN:

Qua các tài liệu c trong h s v án và quá tr nh t h i tranh lu n tại phiên toà nội dung v án được t m t t như sau:

Liêu Minh Đ và Liêu Minh T có mối quan hệ là anh em với nhau. Khoảng 18 giờ 00 ngày 11/6/2017 Đ và T cùng với ông Liêu K (sinh năm 1966 hộ hẩu thường trú: Ấp C, xã V huyện T t nh Sóc Trăng là bác của Đ và T ) và bạn của Đức tên Lý O (sinh năm 1988, hộ hẩu thường trú: Ấp B, xã T huyện L t nh Sóc Trăng) đ n dự tiệc sinh nhật của bé Danh Thị Hồng H (sinh ngày 11/6/2015) là con của ông Danh Thanh Q (sinh năm 1993, hộ hẩu thường trú: Ấp Đ xã T, huyện Đ t nh Sóc Trăng) tại nhà trọ Võ Văn H thuộc hu phố L phường T thị xã Tân Uyên t nh B nh Dương.

Khoảng 19 giờ 00 cùng ngày có 02 người hách nam thanh niên ( hông rõ nhân thân lai lịch) ngồi dự tiệc chung bàn với Đ và ông Danh Quy N (sinh năm 1987, hộ hẩu thường trú: Ấp M, xã T huyện H t nh Kiên Giang) là bạn của ông Q. Khi đó 02 người hách này sử dụng điện thoại di động và đũa để mở nắp các chai bia đưa lên bàn cho mọi người uống. Sau đó êu Đ thử dùng điện thoại di động hoặc đũa để mở nắp chai bia xem được hay hông th Đ trả lời hông mở như vậy được. Nghe Đ trả lời hông mở được thì ông N nh n vào mặt Đ và chửi Đ. Bị ông N chửi Đ vẫn ti p tục cùng ngồi uống bia với mọi người. Đ n hoảng 20 giờ 00 cùng ngày hách dự tiệc ra về gần h t ch còn lại Q, Đ, T, K, O, N và ông Phạm Văn S (sinh năm 1994, hộ hẩu thường trú: Ấp S, xã L huyện T t nh Sóc Trăng) là bạn của Q và N; Đ cũng bi t S do trước đó cả hai người có thời gian làm công nhân chung công ty. Khi đó ông Q mời nh ng người hách còn lại ngồi chung lại một bàn để ti p tục uống bia cùng với Q và ông Danh V (sinh năm 1990, hộ hẩu thường trú: Ấp Đ xã V huyện T t nh Sóc Trăng) là anh ruột của Q. Khi ngồi vào bàn th Đ và N ngồi đối diện với nhau. Do còn bực tức v bị ông N chửi nên Đ đứng dậy cầm một cái ly bằng thủy tinh chứa bia và mời ông N uống. Thấy vậy ông N vẫn ngồi và cầm một cái ly hác cũng bằng thủy tinh chứa bia giơ lên để chạm với ly bia Đ đang mời. Lúc này Đ đẩy mạnh ly bia của Đ chạm vào ly bia của ông N làm cả hai ly bia bị vỡ ra làm nhiều mảnh văng trúng vào vùng cổ bên trái của Đ và trúng vào vùng mặt của ông N làm cả hai bị thương tích nhẹ. Đ ti p tục ném phần còn lại của ly bia Đ đang cầm về phía ông N nhưng hông trúng. Đ ti p tục đi lại sát ông N và giơ tay lên định đánh ông N thì ông S đứng dậy giơ tay lên định đánh lại Đ để nhằm bênh vực ông N. Thấy vậy nh ng người có mặt tại bàn tiệc đứng dậy can ngăn nên hông xảy ra đánh nhau; đồng thời mọi người ngh uống bia và ra về. Lúc này, ông K giao xe môtô biển số 60 AA – 038.22 của ông K cho T điều hiển để chở Đ ra về.

Khi Tường chở Đ rời hỏi nơi dự tiệc sinh nhật bé H được hoảng 200 mét th Đ nảy sinh định d ng xe bên đường chờ ông N và ông S t nơi dự tiệc ra về sẽ chặn đường đánh ông N và ông S. Để thực hiện định này Đ lên ti ng êu T d ng xe lại bên lề đường và rủ T cùng Đ nhặt đá ven đường chờ ông N và ông S đi ngang qua sẽ ném vào người ông N và ông S, thì T đồng . T d ng xe lại và để xe vào sát lề đường bên phải theo hướng t đám tiệc ra về, rồi cả hai xuống xe nhặt mỗi người 02 (hai) cục đá xanh (loại đá xây dựng có ích thước hoảng 04 x 06 cm) cầm trên tay và đứng tại lề đường cạnh xe cách nhau hoảng 05 mét chờ ông N và ông S đi về ngang sẽ thực hiện hành vi ném đá vào người ông N và ông S. Khoảng 10 phút sau ông N nhờ ông S chở ông N về phòng trọ tại hu phố Cây Da phường Thạnh Phước thị xã Tân Uyên t nh B nh Dương. Ông S điều hiển xe môtô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số 83P1 – 961.34 của ông S chở ông N t nơi dự tiệc ra về với tốc độ nhanh ngang qua vị trí Đ và T đang đứng chờ. Do xe ông S chạy ngang qua nhanh nên T hông ịp ném đá vào người ông N và ông S, riêng Đ thì ném một cục đá về phía ông N và ông S nhưng hông trúng. Sau hi chở ông N về phòng trọ gần đó hoảng 10 phút sau thì ông S một m nh điều hiển xe môtô 83P1 – 961.34 quay trở lại nơi dự tiệc để chơi với ông Q. Lúc này, Đ và T vẫn đứng đợi tại vị trí như ban đầu để chờ ông S đi ngang qua ném đá vào người ông S. Khi ông S điều hiển xe chạy về nơi dự tiệc còn cách Đ và T hoảng 15 mét th Đ nh n thấy ông S nên nói với T “Thằng Súng chạy xe tới a”. Nghe vậy Tg liền ném một cục đá xanh (loại đá 04 x 06 cm) đang cầm trên tay về phía ông S nhưng hông trúng vào người của ông S. Đ đang đứng tại lề đường liền chạy ra đứng trên đường phía trước hướng xe ông S đang điều hiển lưu thông đ n hi ông S điều hiển xe cách Đ hoảng 04 mét th Đ dùng tay cầm một cục đá xanh (loại đá 04 x 06 cm) ném trúng vào vùng ngực của S gây thương tích. Sau hi ném đá trúng vào ngực của ông S th Đ liền chạy vào lề đường đứng rồi T điều hiển xe 60AA – 038.22 chở Đ về phòng trọ tại hu phố T, phường A thị xã D t nh B nh Dương ngủ. Sau hi bị Đ ném đá trúng, ông S bị thương tích nhưng ti p tục điều hiển xe chạy đ n nơi đã dự tiệc bước xuống xe và bỏ xe ngã xuống nền đất. Thấy vậy ông Q và ông V đi lại gần ông S thì ông S nói bị Đ và T ném đá trúng ngực. Ông S than mệt hó thở và nhờ ông Q đưa đi bệnh viện cấp cứu. Ông Q cùng ông V điều hiển xe môtô chở S đưa đ n Phòng hám đa hoa G thuộc phường Khánh B nh thị xã Tân Uyên t nh B nh Dương để cấp cứu. Do v t thương qúa nặng nên Phòng hám đa hoa G sơ cứu rồi chuyển ông S đ n Bệnh viện đa hoa t nh B nh Dương để ti p tục cấp cứu. Đ n hoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày thì ông S tử vong. Sau khi ông S ch t ông Danh V đ n Công an phường Thạnh Phước thị xã Tân Uyên t nh B nh Dương tr nh báo vụ việc. Công an phường Thạnh Phước báo cáo vụ việc đ n cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên t nh B nh Dương đ n phối hợp lập hồ sơ ban đầu ti n hành thụ l điều tra theo thẩm quyền.

Công an phường Thạnh Phước và cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên, t nh B nh Dương ti n hành thu gi vật chứng đồ vật có liên quan gồm:

- 01 (Một) xe mô tô màu đen biển số 60AA – 038.22;

- (Một) Giấy chứng minh nhân dân mang tên Liêu Minh Tường.

- 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen vàng biển số 83P1 – 961.34.

- 02 (Hai) cục đá xanh loại đá 04 x 06 cm.

Biên bản hám nghiệm tử thi ngày 12/6/2017 và K t luận giám định pháp y tử thi số 473/GĐPY ngày 13/6/2017 của Phòng ỹ thuật h nh sự Công an t nh B nh Dương t luận nguyên nhân tử vong của ông Phạm Văn S là do vật tày gây vỡ tim dập phổi tràn máu xoang phổi gây choáng mất máu choáng đa thương dẫn tới ch t.

Qúa tr nh điều tra các bị cáo và đại diện gia đ nh người bị hại hông có i n hay hi u nại g về t luận giám định pháp y của Trung tâm giám định pháp y.

Về phần dân sự: Qúa tr nh điều tra bà Phạm Thị O (sinh năm 1995 hộ hẩu thường trú: Ấp S, xã L huyện T t nh Sóc Trăng) là em gái người bị hại ông Phạm Văn S yêu cầu bị cáo Đ, T có trách nhiệm liên đới bồi thường chi phí mai táng là 24.000.000đ (Hai mươi bốn triệu đồng) và tổn thất tinh thần là 135.000.000đ (Một trăm ba mươi lăm triệu đồng) tổng cộng số tiền mà bà O yêu cầu các bị cáo bồi thường là 159.000.000đ (Một trăm năm mươi chín triệu đồng) bị cáo Đ, T chưa bồi thường thiệt hại.

Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen vàng biển số biển số 83P1 – 961.34 do ông Thạch Q (sinh năm 1970 hộ hẩu thường trú: Ấp B, xã L huyện T, t nh Sóc Trăng) đứng tên đăng chủ sở h u. Xe này ông Q đứng tên đăng chủ sở h u giùm ông Nguyễn Văn S và bà Thạch Thị N (sinh năm 1994 hộ hẩu thường trú: Ấp B, xã L huyện T, t nh Sóc Trăng) là người chung sống như vợ chồng với ông S vào năm 2013 và 2014. Ông Q yêu cầu trả lại xe này cho bà N.

Xe mô tô màu đen biển số 60AA – 038.22 do bà Nguyễn Thanh Ng (sinh năm 1985 HKTT: 31A/1 ấp N, xã H thành phố B t nh Đồng Nai) đứng tên đăng

chủ sở h u. Năm 2015, bà Ng bán xe này cho ông Liêu K (sinh năm 1966 hộ hẩu thường trú: Ấp C, xã V huyện T t nh Sóc Trăng) với giá 3.000.000đ (Ba triệu đồng) nhưng chưa làm thủ tục chuyển quyền sở h u theo quy định. Ngày 11/6/2017, Liêu Minh T là cháu ruột của ông K điều hiển xe này chở ông K đ n hu phố Tân Lương phường Thạnh Phước thị xã Tân Uyên dự tiệc sinh nhật bé H là con của Danh Thanh Q. Sau hi dự tiệc xong ông K được ông Lý O chở đi về phòng trọ bằng xe của ông O còn xe mô tô biển số 60AA – 038.22 ông Kgiao cho T điều hiển chở Đ về phòng trọ; việc T điều hiển xe này chở Đ đi t m ông S đánh, ông K hông bi t.

Cáo trạng số 175/QĐ-KSĐT ngày 22/11/2017 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên truy tố bị cáo Liêu Minh Đ và đồng phạm về tội “Cố gây thương tích” theo Khoản 3 Điều 104 Bộ luật H nh sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên gi nguyên quy t định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Liêu Minh Đ và đồng phạm về tội “Cố gây thương tích”;

- Áp dụng Khoản 3 Điều 104; Điểm p Khoản 1 Khoản 2 Điều 46 Điều 53 của Bộ luật H nh sự xử phạt:

Bị cáo Liêu Minh Đ t 09 năm đ n 10 năm tù.

Bị cáo Liêu Minh T t 07 năm đ n 08 năm tù.

- Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa gia đ nh người bị hại ông Phạm Văn S yêu cầu bị cáo Đ, T liên đới bồi thường số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) bao gồm chi phí mai táng và tổn thất tinh thần. Các bị cáo đồng bồi thường nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về xử l vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 41 Bộ luật H nh sự Điều 76 Bộ luật Tố tụng h nh sự tuyên:

- Tịch thu tiêu huỷ 02 (Hai) cục đá xanh (01 cục có ích thước 11 5 x 10 cm có cạnh h nh vòng cung và có cạnh góc nhọn bề mặt hông bằng phẳng; 01 cục có ích thước 18 x 14 cm có cạnh đường thẳng và có cạnh góc nhọn bề mặt hông bằng phẳng).

- Trả lại cho ông Liêu K 01 xe mô tô nhãn hiệu Daeehan, màu đen - bạc, biển số 60AA - 038.22, số hung B2PKDH000491 số máy RPKFM1P39FMB00030491.

- Trả lại cho bà Thạch Thị N 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu vàng-đen biển số 83P1 – 961.34 số hung RLC55C6KODY029992 số máy 5C6K-03000U.

- Trả lại cho bị cáo Liêu Minh T 01 chứng minh nhân dân tên Liêu Minh T số 366193453.

Tại phiên tòa bị cáo Đức bị cáo T đã hai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Về phần trách nhiệm dân sự các bị cáo đồng bồi thường cho gia đ nh bị hại ông Phạm Văn S số tiền 159.000.000 đồng (Một trăm năm mươi chín triệu đồng) bao gồm chi phí mai táng và tổn thất tinh thần.

Người bào ch a cho bị cáo Liêu Minh Đ tr nh bày quan điểm bào ch a: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội do nhất thời bị cáo đã thành hẩn hai báo là người dân tộc Khơme là dân lao động nghèo sau hi hậu quả xảy ra bị cáo đã tác động gia đ nh đ n gặp gia đ nh người bị hại xin hắc phục một phần hậu quả tại phiên tòa bị cáo đã chấp nhận liên đới bồi thường thiệt hại cho gia đ nh người bị hại bị cáo hiện đang có một con nhỏ sinh năm 2017 nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ h nh phạt cho bị cáo để sớm cải tạo tốt tái hòa nhập cộng đồng trở thành người có ích cho xã hội.

Người bào ch a cho bị cáo Liêu Minh T tr nh bày quan điểm bào ch a: Về thủ tục tố tụng đối với vụ án: Các cơ quan ti n hành tố tụng và nh ng người ti n hành tố tụng đã thực hiện theo đúng qui định của Bộ luật Tố tụng h nh sự thống nhất với tội danh và Điều luật Viện iểm sát đã truy tố. Bị cáo T tham gia thực hiện hành vi phạm tội với vai trò giúp sức bị cáo đã thành hẩn hai báo là người dân tộc Khơme là dân lao động nghèo sau hi hậu quả xảy ra bị cáo đã tác động gia đ nh đ n gặp gia đ nh người bị hại xin hắc phục một phần hậu quả tại phiên tòa bị cáo đã chấp nhận liên đới bồi thường thiệt hại cho gia đ nh người bị hại bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ h nh phạt cho bị cáo để sớm cải tạo tốt tái hòa nhập cộng đồng trở thành người có ích cho xã hội.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Thạch Thị N và ông Kiêu K hông có lời tr nh bày tranh luận ch yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét trả lại tài sản thuộc quyền sở h u của m nh.

Bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo đã bi t lỗi các bị cáo đã vi phạm pháp luật h nh sự và xin Hội đồng xét xử xem xét mức h nh phạt phù hợp cho các bị cáo.

NH N ĐỊNH CỦA HỘI Đ NG X T X :

Trên cơ sở nội dung vụ án căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xét hỏi tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trên địa bàn thị xã Tân Uyên t nh B nh Dương. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên hởi tố vụ án hởi tố bị can đối với các bị cáo là đúng thẩm quyền. Về hành vi quy t định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Tân Uyên Điều tra viên Viện iểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên, Kiểm sát viên trong qúa tr nh điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền tr nh tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng h nh sự. Qúa tr nh điều tra và tại phiên toà, các bị cáo người bào ch a cho bị cáo và người đại diện hợp pháp của người bị hại hông có người nào có i n hoặc hi u nại về hành vi quy t định của cơ quan ti n hành tố tụng người ti n hành tố tụng. Do đó các hành vi quy t định tố tụng của cơ quan ti n hành tố tụng người ti n hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời hai của bị cáo Liêu Minh Đ, Liêu Minh T tại phiên toà thống nhất với lời hai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra trước sau thống nhất với nhau và phù hợp với lời hai của người làm chứng về thời gian địa điểm qúa tr nh thực hiện hành vi phạm tội cũng như thương tích thực t của người bị hại và nh ng chứng cứ hác trong quá tr nh điều tra. T nh ng chứng cứ nêu trên Hội đồng xét xử có căn cứ t luận: Ngày 11/6/2017, bị cáo Liêu Minh Đ, Liêu Minh T đã có hành vi sử dụng cục đá xanh (đá xây dựng loại 04 x 06 cm) ném mạnh trúng vào vùng ngực của ông Phạm Văn S trong lúc ông S đang điều hiển xe môtô lưu thông trên đường dẫn đ n ông Phạm Văn S ch t do vật tày gây vỡ tim dập phổi tràn máu xoang phổi gây choáng mất máu choáng đa thương. Hành vi của các bị cáo đã đủ y u y u tố cấu thành tội cố gây thương tích tội phạm và h nh phạt quy định tại Khoản 3 Điều 104 Bộ luật H nh sự. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm h nh sự. Như vậy Cáo trạng của Viện iểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên truy tố đối với bị cáo Liêu Minh T Liêu Minh Đ về tội cố gây thương tích là có căn cứ và đúng pháp luật. Bị cáo Đ là người rủ rê lôi éo chính em ruột của m nh phạm tội và là người trực ti p ném đá trúng vào ngực người bị hại dẫn đ n tử vong nên phải chịu trách nhiệm h nh sự cao hơn. Bị cáo T tuy hông trực ti p gây nên thương tích cho người bị hại nhưng là đồng phạm giúp sức tích cực cho bị cáo Đ nên phải chịu h nh phạt tương xứng với nh ng hành vi do m nh gây nên.

[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đ n tính mạng sức hỏe của người hác một cách trái pháp luật gây mất trật tự xã hội tại địa phương. Các bị cáo nhận thức được hành vi của m nh là vi phạm pháp luật h nh sự và sẽ bị tr ng trị hiểu rõ hi sử dụng đá xanh (đá xây dựng loại 04 x 06 cm) ném vào nh ng vị trí trên cơ thể của người bị hại th hả năng gây tổn hại sức hỏe cho người bị hại là rất cao nhưng vẫn cố thực hiện. Các bị cáo và người bị hại S có mâu thuẫn hông lớn nhưng các bị cáo lại gây thương tích cho ông S và dẫn đ n ch t người thể hiện tính xem thường pháp luật. Do đó cần có mức h nh phạt tương xứng với hành vi của các bị cáo để răn đe giáo dục các bị cáo và phòng ng a chung cho xã hội. Tuy nhiên hi quy t định h nh phạt cần xem xét toàn diện về nhân thân t nh ti t tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự đối với các bị cáo.

Về t nh ti t tăng nặng trách nhiệm h nh sự: Không có.

Về t nh ti t giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự: Các bị cáo sau hi phạm tội có thái độ thành hẩn hai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của m nh các bị cáo là người dân tộc Khơme bị cáo T có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự nên Hội đồng xét xử áp dụng t nh ti t giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự quy định tại Điểm p Khoản 1 Khoản 2 Điều 46 Bộ luật H nh sự cho các bị cáo hi quy t định h nh phạt.

[4] Mức h nh phạt mà đại diện Viện iểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên đề nghị đối với các bị cáo là phù hợp với tính chất mức độ hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện.

[5] Đề nghị của người bào ch a cho các bị cáo Liêu Minh Đ và Liêu Minh T là có căn cứ chấp nhận một phần.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội gây thương tích cho người bị hại và dẫn đ n ch t người nên các bị cáo phải liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho gia đ nh người bị hại theo quy định tại Điều 584 và 590 Bộ luật Dân sự năm 2015. Đại diện hợp pháp của người bị hại yêu cầu và các bị cáo đồng liên đới bồi thường thiệt hại cho gia đ nh người bị hại S số tiền 100.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[7] Về xử l vật chứng:

- Đối với 02 (hai) cục đá xanh (01 cục có ích thước 11 5 x 10 cm có cạnh h nh vòng cung và có cạnh góc nhọn bề mặt hông bằng phẳng; 01 cục có ích thước 18 x 14 cm có cạnh đường thẳng và có cạnh góc nhọn bề mặt hông bằng phẳng) là vật chứng thu gi hông còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

- Xe mô tô nhãn hiệu Daeehan, màu đen - bạc biển số 60AA – 038.22 số khung B2PKDH000491 số máy RPKFM1P39FMB00030491 là xe của ông Liêu K, cho các bị cáo mượn xe hông bi t các bị cáo dùng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên giao trả lại cho ông Liêu K.

- Xe mô tô nhãn Yamaha Sirius, màu vàng-đen biển số 83P1 – 961.34 số khung RLC55C6KODY029992 số máy 5C6K-03000U là xe của người bị hại Phạm Văn S và bà Thạch Thị N nên cần giao trả lại cho bà N và gia đ nh người bị hại. Tuy nhiên tại phiên tòa bà Thạch Thị N và bà Phạm Thị O thỏa thuận giao toàn quyền sở h u xe cho bà N nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

- 01 chứng minh nhân dân mang tên Liêu Minh T số 366193453 là của bị cáo T nên trả lại cho bị cáo T.

[8] Về án phí: Các Bị cáo phạm tội và bị t án bị cáo phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường nên phải chịu án phí h nh sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

V các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Liêu Minh T và Liêu Minh Đ phạm tội “Cố gây thương tích”.

Áp dụng Khoản 3 Điều 104; Điểm p Khoản 1 Khoản 2 Điều 46; Điều 53 Bộ luật H nh sự

Xử phạt bị cáo Liêu Minh Đ 09 (chín) năm tù; thời hạn tù tính t ngày 12/6/2017.

Xử phạt bị cáo Liêu Minh T 07 (bảy) năm tù; thời hạn tù tính t ngày 12/6/2017.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 42 Bộ luật H nh sự; Điều 584 Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015. Buộc bị cáo Liêu Minh T và Liêu Minh Đ liên đới bồi thường cho gia đ nh người bị hại số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) bao gồm chi phí mai táng và tổn thất tinh thần.

Kể t ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đ n hi thi hành án xong tất cả các hoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu hoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trong trường hợp bản án quy t định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự th người được thi hành án dân sự người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng ch thi hành án theo quy định tại các Điều 6 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về xử l vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật H nh sự Điều 76 Bộ luật Tố tụng h nh sự tuyên:

- Tịch thu tiêu huỷ 02 (hai) cục đá xanh (01 cục có ích thước 11 5 x 10 cm có cạnh h nh vòng cung và có cạnh góc nhọn bề mặt hông bằng phẳng; 01 cục có ích thước 18 x 14 cm có cạnh đường thẳng và có cạnh góc nhọn bề mặt hông bằng phẳng).

- Trả lại cho ông Liêu K 01 xe mô tô nhãn hiệu Daeehan, màu đen - bạc, biển số 60AA – 038.22 số hung B2PKDH000491 số máy RPKFM1P39FMB00030491.

- Trả lại cho bà Thạch Thị N 01 xe mô tô nhãn Yamaha Sirius, màu vàng-đen biển số 83P1 – 961.34 số hung RLC55C6KODY029992 số máy 5C6K-03000U.

- Trả lại cho bị cáo Liêu Minh T 01 chứng minh nhân dân tên Liêu Minh T số 366193453.

(Thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/11/2017 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Tân Uyên t nh B nh Dương).

4. Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng H nh sự; Điều 23 Điều 26 Nghị quy t 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội hóa 14 quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản l và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Liêu Minh T và Liêu Minh Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngh n đồng) án phí h nh sự sơ thẩm và liên đới nộp 5.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo đại diện hợp pháp của người bị hại người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền háng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày ể t ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền háng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày ể t ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ