vanban.org

Bản án 182 — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Cẩm V đối với anh Nguyễn Văn Th về việc “ly hôn”.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Cẩm V được ly hôn với anh Nguyễn Văn Th. Việc nuôi con: Chị Nguyễn Thị Cẩm V được quyền tiếp tục nuôi Nguyễn Pha L, sinh ngày 30/6/2015 và Nguyễn Trung K, sinh ngày 07/9/2020, anh Th không phải cấp dưỡng nuôi con vì chị V không có yêu cầu. Cả hai bên đều có quyền … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Cẩm V đối với anh Nguyễn Văn Th về việc “ly hôn”.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LONG AN
Bản án: 182/2022/HNGĐ-ST.
Ngày: 04-7-2022.
V/v ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN

-Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Quyên.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Đổi.

2 Ông Nguyễn Chí Lin.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thoa - là cán bộ Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Ngày 04 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa (toạ lạc tại Khu B, thị trấn Hậu Nghĩa) tiến hành xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 375/2022/TLST-HNGĐ ngày 27/4/2022 về việc “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 165/QĐXXST-HNGĐ ngày 19/5/2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Cẩm V, sinh năm 1993.

Địa chỉ: Ấp L, xã G, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An (vắng mặt).

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Th, sinh năm 1988.

Địa chỉ: Ấp C, xã G, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn ngày 14/4/2022 và những lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Cẩm V trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn Th sống với nhau năm 2012, có đăng ký kết hôn tại UBND xã L. Trong thời gian chung sống, vợ, chồng luôn phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vả, chị và anh Th không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên chị và anh Th sống ly thân từ tháng 9 năm 2020 cho đến nay. Nay thấy tình cảm vợ chồng không còn và cũng không thể hàn gắn nên chị xin ly hôn anh Th, vì bận công việc nên chị xin vắng mặt tại các phiên xét xử của Tòa án.

Về con chung: Nguyễn Pha L, sinh ngày 30/6/2015 và Nguyễn Trung K, sinh ngày 07/9/2020, hai con hiện đang sống với chị, sau khi ly hôn chị xin được quyền tiếp tục nuôi hai con, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung: Tự thỏa thuận.

Nợ chung: Không có.

Bị đơn anh Nguyễn Văn Th mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không đến và không có ý kiến phản hồi về yêu cầu xin ly hôn của chị V.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Toà, căn cứ các kết quả xét hỏi tại phiên Toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị Cẩm V khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn Th, anh Th hiện có hộ khẩu thường trú tại xã Lộc Giang, huyện Đức Hòa nên Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa thụ lý là thuộc thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị V có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Th đã được tống đạt các thủ tục theo quy định của pháp luật nhưng anh Th vẫn vắng mặt nên căn cứ khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Cẩm V và anh Nguyễn Văn Th chung sống với nhau vào năm 2012, có đăng ký kết hôn, nên hôn nhân giữa chị V và anh Th được xem là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Trong quá trình chung sống, chị V và anh Th phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm. Nay thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị V xin ly hôn anh Th, anh Th không phản hồi ý kiến của chị V.

Xét thấy chị V và anh Th chung sống với nhau, phát sinh mâu thuẫn nhưng không được gia đình hai bên và chính quyền địa phương giải quyết. Chị V và anh Th không tự khắc phục được mâu thuẫn nên để mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, dẫn đến sống ly thân từ tháng 9 năm 2020 cho đến nay. Từ khi sống ly thân tới nay, anh Th cũng không tìm ra được biện pháp gì để vợ chồng được đoàn tụ, hàn gắn lại tình cảm vợ chồng. Hơn nữa, tại các buổi hòa giải cũng như tại phiên tòa xét xử hôm nay, anh Th cũng không đến, không có thiện chí để hàn gắn lại tình cảm vợ chồng. Do đó, xét thấy hôn nhân giữa chị V và anh Th đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, đời sống vợ chồng không có hạnh phúc, nên chị V xin ly hôn với anh Th là phù hợp với Điều 56 luật hôn nhân gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị V đối với anh Th.

Con chung: Nguyễn Pha L, sinh ngày 30/6/2015 và Nguyễn Trung K, sinh ngày 07/9/2020, cháu L và cháu K hiện đang sống với chị V, sau khi ly hôn chị V xin tiếp tục nuôi. Xét thấy, cháu L và cháu K đang sống với chị V ổn định, hai cháu phát triển bình thường. Anh Th cũng không có ý kiến phản hồi về việc chị V xin được nuôi con khi ly hôn, nên thấy cần thiết để cho chị V tiếp tục nuôi cháu L và cháu K là phù hợp cũng như phù hợp nguyện vọng của cháu L, sau khi chị V và anh Th ly hôn, cháu L xin ở với chị V. Chị V không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Tài sản chung và nợ chung: Chị V không yêu cầu giải quyết tài sản chung và nợ chung nên không xem xét. Đối với anh Th không phản hồi ý kiến yêu cầu xin ly hôn của chị V nên không thể hiện có tài sản chung và nợ chung. Nếu sau này có tranh chấp, sẽ được xem xét giải quyết bằng vụ án khác.

Chị V phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Cẩm V đối với anh Nguyễn Văn Th về việc “ly hôn”.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Cẩm V được ly hôn với anh Nguyễn Văn Th.

Việc nuôi con: Chị Nguyễn Thị Cẩm V được quyền tiếp tục nuôi Nguyễn Pha L, sinh ngày 30/6/2015 và Nguyễn Trung K, sinh ngày 07/9/2020, anh Th không phải cấp dưỡng nuôi con vì chị V không có yêu cầu. Cả hai bên đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung. Bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, bên trực tiếp nuôi con không được quyền ngăn cản. Khi cần thiết có thể yêu cầu thay đổi quyền nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con

2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Cẩm V chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm sung công quỹ nhà nước. Chị V được khấu trừ 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0010147 ngày 21/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hoà, tỉnh Long An để thi hành.

Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án để xin xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ