vanban.org

Bản án 182/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hóc Môn, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 12/08/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn Đ 02 (hai) năm, 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 20/12/2023. Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích” - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÓC MÔN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 182/2024/HS-ST
Ngày 12 - 8 - 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Liên Quân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Văn Chính.

2. Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hà Kim Thông - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Đức Đạt - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 09 và 12 tháng 8 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 169/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 202/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 139/2024/HSST-QĐ ngày 22 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1999 tại tỉnh Trà Vinh; hộ khẩu thường trú: Ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Q và bà Võ Thị T, bị cáo có vợ tên Huỳnh Thị Anh Đ1 và 01 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo đang bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H từ ngày 20/12/2023. (có mặt)

Bị hại: Ông Ngô Chí T1 – sinh năm 1979.

Địa chỉ: 4 đường T, Khu phố E, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ 30 ngày 20/8/2023, Nguyễn Văn Đ điều khiển xe gắn máy chở vợ tên Huỳnh Thị Anh Đ1 và con về phòng trọ số 15 của dãy nhà trọ số 38/4F thuộc Tổ A ấp Đ, xã T, huyện H có lối đi chung với dãy nhà trọ 37/8E thuộc Tổ A, ấp Đ, xã T, huyện H. Khi chạy ngang phòng trọ số 04 của dãy nhà trọ số 38/4F do Ngô Chí T1 thuê thì bất ngờ có khúc cây gỗ tròn ném vào đuôi xe máy của Đ nhưng không trúng. Sau khi chở vợ con về phòng số 15, Đ đi bộ lại phòng trọ số 04 để hỏi T1 lý do ném khúc cây gỗ nhưng T1 đóng cửa phòng, nên Đ chửi bới và cầm khúc gỗ tròn thục vào cửa sắt 03 cái và kêu T1 ra nói chuyện. Do Tiên không mở cửa nên Đ dùng quẹt đốt 01 cây chổi bông cỏ để ngay khe cửa để cho khói bay vào phòng của T1. Khoảng 01 phút sau, T1 mở cửa ra rồi dùng chân đạp vào hông phải của Đ 01 cái làm Đon té ngã xuống đường của lối đi chung. Đ đứng dậy dùng tay đánh nhau với T1 rồi ôm giằng co, đẩy nhau đến trước cửa phòng trọ số 8A của dãy nhà trọ thì cả 02 té ngã xuống đường của lối đi chung. Lúc này T1 nằm dưới còn Đ nằm đè lên người Tiên, nên Đ dùng tay phải chụp lấy 01 cục gạch ống 04 lỗ đang để ngay trước cửa phòng số 8A đánh vào đầu Tiên 01 cái làm T1 bị thương tích. Sau khi đánh T1, Đ vứt cục gạch xuống đường làm cục gạch này bị vỡ một phần và đi về phòng trọ, nhìn thấy T1 vẫn nằm Đon quay lại thì thấy đầu Tiên chảy máu nhiều nên kêu vợ đưa T1 đi cấp cứu nhưng T1 không đồng ý. Được nhiều người khuyên nên T1 đến bệnh viện A điều trị vết thương.

Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 729/KLTTCT-TTPY.2023 ngày 12/10/2023 của Trung tâm P đối với thương tích trên người Ngô Chí T1 như sau:

1. Các kết quả chính:

- Chấn thương vùng đỉnh trái gây sưng nề mô mềm, rách da, vỡ lún xương đỉnh, tụ màu ngoài màng cứng đỉnh trái đã được điều trị khâu vết thương, hiện còn: Một sẹo kích thước 5,6x(0,1-0,2)cm; Hình ảnh vỡ lún xương trên phim MSCT, tình trạng ổn định có tỉ lệ 17%; Thương tích trên do vật tày có cạnh tác động gây ra;

- Chấn thương vùng trán phải gây sưng nề mô mềm kèm tụ khí dưới da đã được điều trị, hiện còn một vết tăng giảm sắc tố kích thước 0,6x0,3cm, ổn định có tỉ lệ 0,5%; Thương tích trên do vật tày tác động gây ra.

- Chấn thương vùng đỉnh sau trái gây sưng nề mô mềm, rách da đã được điều trị, hiện có một sẹo kích thước 2x0,2cm, ổn định, có tỉ lệ 01%; Thương tích trên do vật tày tác động gây ra.

2. Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp ý tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Ngô Chí T1 tại thời điểm giám định là 18%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

3. Kết luận khác: Chấn thương đỉnh trái gây nguy hiểm đến tính mạng, các chấn thương còn lại thì không. Cục gạch như Cơ quan điều tra cung cấp có thể gây ra được tất cả các chấn thương trên.

Tại văn bản số: 729-GT/KLTTCT-TTPY.23-24 ngày 24 tháng 7 năm 2024 của Trung tâm Pháp y Thành phố P xác định: “Tổng thương tích của hai chấn thương trên theo phương pháp cộng tại Thông tư 22/2019/TT-BYT: 17,83%, làm tròn là 18% (mười tám phần trăm)”

Bản cáo trạng số: 167/CT-VKS-HS ngày 23/5/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn giữ quyền công tố tại phiên tòa xác định: Căn cứ vào lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai tại phiên tòa hôm nay của bị cáo cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134. Đề nghị Hội đồng xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản ghi lời khai, bị cáo trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn Đ khai nhận:

Vào khoảng 17 giờ 30 ngày 20/8/2023, Nguyễn Văn Đ điều khiển xe gắn máy chở vợ và con đi ngang phòng trọ số 04 của dãy nhà trọ số 38/4F thuộc Tổ A ấp Đ, xã T, huyện H do Ngô Chí T1 thuê thì có khúc cây gỗ tròn ném vào đuôi xe máy của bị cáo. Do bực tức nên bị cáo Nguyễn Văn Đ quay lại hỏi nhưng Ngô Chí T1 không mở cửa phòng trọ. Từ đó, bị cáo đã chửi bới và cầm khúc gỗ tròn thục vào cửa sắt và dùng quẹt đốt 01 cây chổi bông cỏ để ngay khe cửa cho khói bay vào phòng của phòng trọ của Ngô Chí T1. Một lúc sau, Ngô Chí T1 mở cửa nên hai bên đánh nhau, bị cáo nhặt một cục gạch ống 04 lỗ đánh vào đầu của Ngô Chí T1 gây thương tích đúng như nội dung cáo trạng truy tố. Bị cáo xác định thương tích của Ngô Chí T1 là do bị cáo gây ra, hành vi của bị cáo là tự phát và không có ai rủ rê, xúi giục.

Bị hại Ngô Chí T1 xác định đã bị bị cáo Nguyễn Văn Đ dùng gạch ống đánh vào đầu gây thương tích đúng như lời khai trong quá trình điều tra và nội dung Cáo Trạng truy tố.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp các lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại Ngô Chí T1, phù hợp với lời khai của những người làm chứng và các chứng cứ có tại hồ sơ vụ án.

Từ đó, có đủ cơ sở chứng minh ngày 20/8/2023 trước phòng trọ số 8A của dãy nhà trọ số: 37/8E, Tổ A, ấp Đ, xã T, huyện H, Nguyễn Văn Đ có hành vi dùng 01 cục gạch ống đánh vào đầu ông Ngô Chí T1 gây thương tích với tỷ lệ thương tật 18%. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Do đó, Cáo trạng số: 167/CT-VKS-HS ngày 23/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ và đúng pháp luật.

Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định:

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

...

i) Có tính chất côn đồ;

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.”

Áp dụng điều luật viện dẫn nêu trên cho thấy, hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, đã xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của người khác một cách trái pháp luật với lỗi cố ý trực tiếp, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo để đảm bảo tính răn đe của pháp luật và giáo dục phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử có xem xét, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tại phiên tòa ông Ngô Chí T1 xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Từ đó, cần giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Ý kiến đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ và mức hình phạt đối với bị cáo của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn là có căn cứ, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị hại Ngô Chí T1 yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại các khoản bao gồm: Chi phí điều trị thương tích là 17.300.000 đồng; Thu nhập thực tế bị mất là 21.000.000 đồng; Cộng chung 02 khoảng là 38.300.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường các khoản thiệt hại theo yêu cầu của bị hại. Việc thỏa thuận bồi thường thiệt hại giữa bị cáo và bị hại là tự nguyện, không trái pháp luật, nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Như vậy, bị cáo Nguyễn Văn Đ có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho bị hại Ngô Chí T1 các khoản là 38.300.000 đồng.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 cây chổi dài khoảng 74cm đã qua sử dụng, bị cháy phần cỏ; 01 cục gạch ống 04 lỗ dài khoảng 18cm bị vỡ một phần; 01 miếng gạch nghi dính vết máu; 01 dụng cụ hốt rác màu xanh bị gãy tay cầm có liên quan đến hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Quá trình điều tra có đủ cơ sở xác định bị cáo Nguyễn Văn Đ cầm gạch ống đánh vào đầu ông Ngô Chí T1 gây thích là tự phát và không có bàn bạc, trao đổi với người khác, nên xác định bị cáo Nguyễn Văn Đ không có đồng phạm là phù hợp.

Án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự có giá ngạch bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ vào Điều 47 và Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; các Điều 357, 468, 585 và 590 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn Đ 02 (hai) năm, 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 20/12/2023.

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 01 cây chổi dài khoảng 74cm đã qua sử dụng, bị cháy phần cỏ; 01 cục gạch ống 04 lỗ dài khoảng 18cm bị vỡ một phần; 01 miếng gạch nghi dính vết máu; 01 dụng cụ hốt rác màu xanh bị gãy tay cầm;

Vật chứng hiện nay Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn đang quản lý, theo Quyết định chuyển vật chứng số: 138/QĐ-VKS-HS ngày 20/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn và biên bản giao nhận vật chứng cứ ngày 30/5/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn.

Về dân sự: Công nhận sự thỏa thuận về yêu cầu bồi thường thiệt hại giữa bị hại Ngô Chí T1 và bị cáo Nguyễn Văn Đ. Buộc Nguyễn Văn Đ có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho ông Ngô Chí T1 số tiền 38.300.000đ (ba mươi tám triệu ba trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong khoản tiền bồi thường nêu trên, hàng tháng bị cáo Nguyễn Văn Đ còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Về án phí: Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng). Án phí dân sự có giá ngạch bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 1.915.000đ (một triệu chín trăm mười lăm nghìn đồng);

Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ