vanban.org

Bản án 182/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 14/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Võ Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Võ Văn L 04 (bốn) năm tù. Th i hạn tù tính từ ngày 10/3/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Văn Long - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Võ Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG THÀNH
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 182/2023/HS-ST.
Ngày: 14-9-2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc An.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Ba

2. Bà Nguyễn Thị Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Linh Phương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Thành.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa: Ông Trần Tiến Dũng – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành xét xử sơ thẩm hình thức trực tuyến công khai tại hai điểm cầu: Điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành gồm: Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, Thư ký phiên tòa; Điểm cầu thành phần tại Nhà tạm giữ Công an huyện L gồm: Bị cáo, Thư ký và cán bộ chiến sỹ thuộc nơi giam giữ đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 163/TLST-HS ngày 04 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 195/2023/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

Võ Văn L, sinh năm 1989 tại Đồng Nai.

Nơi cư trú: Ấp S, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ E, sinh năm 1947 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1948, bị cáo là con thứ bảy trong gia đình có 07 chị em và chưa có vợ con.

Tiền án:

- Ngày 20/5/2008, bị Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 07 năm tù về tội Cướp tài sản theo khoản 2 Điều 133 Bộ lu t hình sự năm 1999 tại Bản án số 495/2008/HSPT.

- Ngày 27/9/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm c p tài sản theo khoản 1 Điều 138 Bộ lu t hình sự năm 1999 tại Bản án số 166/2013/HSST.

- Ngày 27/01/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội Trộm c p tài sản theo khoản 2 Điều 138 Bộ lu t hình sự năm 1999 tại Bản án số 04/2015/HS-ST.

- Ngày 27/3/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai xử phạt 03 năm tù về tội Tiêu thụ tài sản do ngư i khác phạm tội mà có theo khoản 2 Điều 250 Bộ lu t hình sự năm 1999 tại Bản án số 14/2015/HS-ST.

- Ngày 29/9/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Trộm c p tài sản theo khoản 2 Điều 138 Bộ lu t hình sự năm 1999, t ng hợp bản án số 14/2015/HS-ST của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ buộc chấp hành hình phạt chung 09 năm tù tại Bản án số 166/2015/HS-ST. Chấp hành xong hình phạt ngày 16/9/2021.

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

Ngày 31/5/2023 bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L ra quyết định khởi tố bị can về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy .

- Bị cáo bị tạm giam từ ngày 10/3/2023 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện L (có mặt).

- Bị hại: Anh Nghiêm Xuân T, sinh năm 1996.

Địa chỉ: T C, ấp S, xã C, huyện L, tỉnh Đồng Nai (v ng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Ông Bùi Quang H, sinh năm 1980 (v ng mặt).

+ Bà Nhữ Thị H1, sinh năm 1985 (v ng mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp F, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

+ Anh Lê Tấn T1, sinh năm 1995.

Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai (v ng mặt).

+ Ông Võ Văn T2, sinh năm 1985.

Địa chỉ: Ấp S, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai (v ng mặt).

- Ngư i làm chứng: Bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1954 (v ng mặt).

Địa chỉ: Ấp C, xã C, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm t t như sau:

Võ Văn L là ngư i nghiện ma túy và đã có 05 tiền án về các tội Cướp tài sản, Trộm c p tài sản và Tiêu thụ tài sản do ngư i khác phạm tội mà có . Lúc 23 gi ngày 26/12/2022, L chuẩn bị 01 ba lô đeo sau lưng, một chiếc kìm c t s t rồi điều khiển xe mô tô hiệu BOSS, biển số 39F6-1235 đi lòng vòng từ nhà ở ấp S, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai tìm nhà dân sơ hở để trộm c p. Khi đến khu vực t G, ấp C, xã C, huyện L, L phát hiện tiệm điện thoại của anh Nghiêm Xuân T khóa cửa trước, không có hàng rào nên L dựng xe bên hông tiệm rồi đi ra phía sau dùng kìm c t khoá mở cửa sau đột nh p vào bên trong tiệm. Lúc này, thấy cửa kính đều khóa nên L lấy 01 thanh s t dài khoảng 40cm nằm bên hông tiệm cạy cửa tủ kính lấy trộm 23 chiếc điện thoại di động gồm 01 điện thoại di động SAMSUNG A70, màu xanh; 01 điện thoại di động SAMSUNG j4+, màu đen; 01 điện thoại di động SAMSUNG A21S, màu xanh; 02 điện thoại di động SAMSUNG A10, màu xanh; 02 điện thoại di động SAMSUNG j6+, màu đỏ; 01 điện thoại di động SAMSUNG A50S, màu đen; 03 điện thoại di động SAMSUNG j7pro, màu đen; 01 điện thoại di động SAMSUNG j7 Prime, màu vàng; 01 điện thoại di động SAMSUNG A03, màu đen; 01 điện thoại di động OPPO A83, màu hồng; 01 điện thoại di động OPPO A59, màu vàng; 01 điện thoại di động HUAWEI, màu đen; 01 điện thoại di động IPHONE 6, màu tr ng; 01 điện thoại di động IPHONE 7 PLUS, màu hồng; 01 điện thoại di động IPHONE 12 PROMAX, màu xanh; 02 điện thoại di động REDME C1, màu xanh đen; 01 điện thoại di động OPPO R7, màu vàng; 01 điện thoại di động IPHONE XS, màu vàng (tất cả đều đã qua sử dụng); 03 cục sạc dự phòng; 02 cục sạc, cáp sạc; 08 sim Viettel 4G; 10 sim V; 10 sim Vietnammobile; 05 sim Mobiphone; 30 thẻ cào điện thoại các loại gồm: 10 cái mệnh giá 20.000 đồng, 10 cái mệnh giá 50.000 đồng, 05 cái mệnh giá 100.000 đồng và 05 cái mệnh giá 200.000 đồng.

Sau khi trộm c p tài sản xong, L điều khiển xe mô tô trên đi đến 01 căn nhà hoang ở ấp F, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai. L kiểm tra thấy 04 điện thoại di động còn sử dụng được, một số điện thoại bị hư hỏng nên bỏ vào ba lô cất giấu tại nhà hoang rồi về nhà ngủ. Khoảng 19 gi cùng ngày, L quay lại căn nhà hoang trên lấy 04 chiếc điện thoại gồm: 02 chiếc điện thoại SamSung A10, 01 chiếc Iphone 7 Plus và 01 Iphone 12 promax đi đến cửa hàng điện thoại Đông Phương Nam thuộc ấp F, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Tại đây, L bán 01 điện thoại hiệu SamSung A10 cho Nhữ Thị H1 với giá 700.000 đồng và cầm cố 01 điện thoại SamSung A10 cho chị H1 với số tiền 1.000.000 đồng. Riêng 01 cái điện thoại iphone 7 Plus và Iphone 12 promax L mang về. Đến 14 gi ngày 28/12/2022, L tiếp tục điều khiển xe mô tô đến tiệm điện thoại của chị H1 để bán 01 cái điện thoại iphone 7 Plus và Iphone 12 promax nhưng chị H1 không mua nên L bán điện thoại SamSung A10 đã cầm cố trước đó với giá 1.300.000 đồng cho H1 (H1 đưa thêm cho L 300.000 đồng trừ 1.000.000 đồng cầm cố trước đó).

Đến ngày 01/01/2023, L gặp một ngư i bạn tên D (chưa rõ tên tu i, địa chỉ cụ thể) đưa cho D 04 điện thoại di động gồm: 01 điện thoại Iphone 12 Promax đã bị bể mặt trước sau, 02 điện thoại Samsung và 01 điện thoại Oppo đã bị tháo r i để D đi bán. Khoảng 14 gi cùng ngày, D điều khiển xe mô tô (không rõ biển số của D) chở L đến tiệm điện thoại Bi APPLE ở ấp A, xã B, huyện L do Lê Tấn T1 làm chủ. D đi vào tiệm bán cho T1 04 điện thoại trên với giá 1.200.000 đồng đưa cho L thì L cho D 200.000 đồng, còn lại L tiêu xài hết.

Khoảng 11 gi , ngày 07/01/2023, L và D tiếp tục đến tiệm điện thoại tên BI APPLE bán cho T1 04 điện thoại di động hiệu S1 và O (gồm 02 điện thoại Oppo đã tháo r i màn hình, còn 02 điện thoại di động S đã bị bể mặt sau). T1 cầm và kiểm tra thấy có thể sử dụng để lấy linh kiện nên đồng ý mua với số tiền 4.000.000 đồng. L chia cho D 500.000 đồng, còn lại L tiêu xài hết.

Đối với số điện thoại còn lại do L trộm c p của anh Nghiêm Xuân T chưa tiêu thụ được, L bỏ vào túi nilon rồi đem cất giấu tại bụi cỏ ở lô cao su thuộc xã T, huyện C, tỉnh Đồng Nai mục đích tìm nơi tiêu thụ nhưng sau đó đã bị mất. Đến ngày 10/3/2023, L bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L b t tạm giam về hành vi trên.

Tại kết lu n định giá tài sản số 107 ngày 20/2/2023 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện L kết lu n: 01 điện thoại di động SAMSUNG A70, màu xanh; 01 điện thoại di động SAMSUNG j4+, màu đen; 01 điện thoại di động SAMSUNG A21S, màu xanh; 02 điện thoại di động SAMSUNG A10, màu xanh; 02 điện thoại di động SAMSUNG j6+, màu đỏ; 01 điện thoại di động SAMSUNG A50S, màu đen; 03 điện thoại di động SAMSUNG j7pro, màu đen; 01 điện thoại di động SAMSUNG j7 Prime, màu vàng; 01 điện thoại di động SAMSUNG A03, màu đen; 01 điện thoại di động OPPO A83, màu hồng; 01 điện thoại di động OPPO A59, màu vàng; 01 điện thoại di động HUAWEI, màu đen; 01 điện thoại di động IPHONE 6, màu tr ng; 01 điện thoại di động IPHONE 7 PLUS, màu hồng; 01 điện thoại di động IPHONE 12 PROMAX, màu xanh; 02 điện thoại di động REDME C1, màu xanh đen; 01 điện thoại di động OPPO R7, màu vàng; 01 điện thoại di động IPHONE XS, màu vàng (tất cả đều đã qua sử dụng) có t ng trị giá 46.450.000 đồng. Riêng 03 cục sạc dự phòng; 02 cục sạc, cáp sạc; 08 sim Viettel 4G; 10 sim V; 10 sim Vietnammobile; 05 sim Mobiphone không thể định giá.

V t chứng vụ án:

Đối với 02 điện thoại Samsung A10 và 08 điện thoại gồm: 01 điện thoại Iphone 12 Promax, 04 điện thoại Samsung và 03 điện thoại Oppo do Nhữ Thị H1 và Lê Tấn T1 mua của L hiện đã bán lại cho ngư i khác chưa rõ tên tu i địa chỉ cụ thể nên không thu hồi được.

Đối với số điện thoại còn lại do L trộm c p của anh T1 và 03 cục sạc dự phòng, 02 cục sạc, cáp sạc, 08 sim Viettel 4G, 10 sim V, 10 sim Vietnammobile, 05 sim Mobiphone hiện đã mất, 30 thẻ cào điện thoại trị giá 2.200.000 đồng gồm: 10 cái mệnh giá 20.000 đồng, 10 cái mệnh giá 50.000 đồng, 05 cái mệnh giá 100.000 đồng, 05 cái mệnh giá 200.000 đồng L đã sử dụng hết, 01 cái kìm, 01 đoạn s t dùng để phá khóa cửa và 01 ba lô L đã vứt bỏ trên đư ng tẩu thoát nên không thu giữ được.

Đối với xe mô tô hiệu Boss biển soát 39F6 – 1235 do ông T2 mua lại của một ngư i tên T4 không rõ địa chỉ nhưng ông T2 không biết L sử dụng vào việc phạm việc phạm tội, sau đó L đã làm mất nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L không thu giữ. Ông T2 không yêu cầu gì khác.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, truy tố bị hại Nghiêm Xuân T yêu cầu bị cáo L bồi thư ng tài sản bị L chiếm đoạt theo kết lu n định giá tài sản.

Trước Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L bị cáo Võ Văn L đã thành khẩn khai nh n hành vi phạm tội như nêu trên phù hợp với l i khai của ngư i bị hại, ngư i làm chứng cùng các v t chứng, chứng cứ, tài liệu đã được thu th p đúng trình tự pháp lu t có tại hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số 155/CT-VKS-LT ngày 31/7/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đã truy tố bị cáo Võ Văn L về tội Trộm c p tài sản theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đ i, b sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đ i, b sung năm 2017) đề nghị xử phạt bị cáo Võ Văn L mức án từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù về tội Trộm c p tài sản .

Về v t chứng vụ án: Không có v t chứng cần xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thư ng tài sản bị chiếm đoạt theo yêu cầu của bị hại đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo bồi thư ng theo quy định pháp lu t.

Trong vụ án này còn có đối tượng tên D có hành vi giúp bị cáo L bán tài sản do L trộm c p mà có nhưng hiện chưa rõ họ tên, tu i, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ xử lý sau.

Đối với Nhữ Thị H1 và Lê Tấn T1 có hành vi mua điện thoại của L nhưng không biết tài sản trên do L trộm c p mà có nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L không khởi tố.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh lu n tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những ngư i tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nh n định như sau:

Về chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai nh n toàn bộ hành vi phạm tội, l i khai nh n tội của bị cáo phù hợp với l i khai bị hại và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa, bị cáo Võ Văn L khai nh n:

Vào khoảng 23 gi ngày 26/12/2022 L có hành vi lén lút chiếm đoạt của anh Nghiêm Xuân T 23 điện thoại di động gồm 01 điện thoại Samsung A70 màu xanh, 01 điện thoại Samsung j4+ màu đen, 01 điện thoại Samsung A21S màu xanh, 02 điện thoại Samsung A10 màu xanh, 02 điện thoại Samsung j6+ màu đỏ, 01 điện thoại Samsung A50S màu đen, 03 điện thoại Samsung j7pro màu đen, 01 điện thoại Samsung j7prime màu vàng, 01 điện thoại Samsung A03 màu đen, 01 điện thoại Oppo A83 màu hồng, 01 điện thoại Oppo A59 màu vàng, 01 điện thoại Huawei màu đen, 01 điện thoại Iphone 6 màu tr ng, 01 điện thoại Iphone 7 Plus màu hồng, 01 điện thoại Iphone 12 Promax màu xanh, 02 điện thoại Iphone Redme C1 màu xanh đen, 01 điện thoại Oppo R7 màu vàng, 01 điện thoại Iphone XS màu vàng (tất cả đều đã qua sử dụng), 03 cục sạc dự phòng, 02 cục sạc, cáp sạc, 08 sim Viettel 4G, 10 sim V, 10 sim Vietnammobile, 05 sim Mobiphone cùng 30 thẻ cào các loại. T ng giá trị tài sản chiếm đoạt là 48.650.000 đồng.

Do đó, có đủ cơ sở kết lu n hành vi của bị cáo Võ Văn L đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm c p tài sản quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ lu t Hình sự 2015 (sửa đ i, b sung năm 2017) nên cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đã truy tố bị cáo L là có căn cứ, đúng quy định pháp lu t.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp lu t bảo vệ, tác động xấu đến tr t tự trị an tại địa phương. Bị cáo là ngư i có nhiều tiền án về tội trộm c p tài sản, cướp tài sản, tiêu thụ tài sản do ngư i khác phạm tội mà có, có nhân thân cũng đang bị điều tra về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng bị cáo không rèn luyện tu dưỡng bản thân mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của ngư i khác để phục vụ cho bản thân nên bị truy tố về tội Trộm c p tài sản quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ lu t Hình sự 2015 (sửa đ i, b sung năm 2017) thuộc trư ng hợp tái phạm nguy hiểm là đúng quy định pháp lu t. Do đó, cần phải xử phạt một mức án th t nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử có xem xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên xem xét áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đ i, b sung năm 2017) giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

V t chứng vụ án:

Đối với 02 điện thoại Samsung A10 và 08 điện thoại gồm: 01 điện thoại Iphone 12 Promax, 04 điện thoại Samsung và 03 điện thoại Oppo do Nhữ Thị H1 và Lê Tấn T1 mua của L hiện đã bán lại cho ngư i khác chưa rõ tên tu i địa chỉ cụ thể nên không thu hồi được.

Đối với số điện thoại còn lại do L trộm c p của anh T1 và 03 cục sạc dự phòng, 02 cục sạc, cáp sạc, 08 sim Viettel 4G, 10 sim V, 10 sim Vietnammobile, 05 sim Mobiphone hiện đã mất, 30 thẻ cào điện thoại gồm: 10 cái mệnh giá 20.000 đồng, 10 cái mệnh giá 50.000 đồng, 05 cái mệnh giá 100.000 đồng, 05 cái mệnh giá 200.000 đồng L đã sử dụng hết, 01 cái kìm, 01 đoạn s t dùng để phá khóa cửa và 01 ba lô L đã vứt bỏ trên đư ng tẩu thoát nên không thu giữ được.

Đối với xe mô tô hiệu Boss biển soát 39F6 – 1235 do ông T2 mua lại của một ngư i tên T4 không rõ địa chỉ nhưng ông T2 không biết L sử dụng vào việc phạm việc phạm tội, sau đó L đã làm mất nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L không thu giữ. Ông T2 không yêu cầu gì nên không xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo chưa bồi thư ng cho bị hại Nghiêm Xuân T, anh T yêu cầu bị cáo bồi thư ng tài sản bị chiếm đoạt theo kết lu n định giá tài sản là 46.450.000 đồng, ngoài ra không yêu cầu gì khác và không yêu cầu ai khác. Bị cáo đồng ý nên buộc bị cáo bồi thư ng cho anh T số tiền 46.450.000 đồng. Đối với 30 thẻ cào và các tài sản khác bị hại T không yêu cầu nên không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 2.322.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Về vấn đề khác:

Trong vụ án này còn có đối tượng tên D có hành vi giúp bị cáo L bán tài sản do L trộm c p mà có nhưng hiện chưa rõ họ, tên tu i, địa chỉ cụ thể nênCơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ xử lý sau.

Đối với Nhữ Thị H1 và Lê Tấn T1 có hành vi mua điện thoại của L nhưng không biết tài sản trên do L trộm c p mà có nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L không khởi tố.

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đều hợp pháp, đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ lu t Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đ i, b sung năm 2017); các Điều 584, Điều 589, Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ lu t Dân sự năm 2015.

Tuyên bố bị cáo Võ Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Võ Văn L 04 (bốn) năm tù.

Th i hạn tù tính từ ngày 10/3/2023.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Võ Văn L có trách nhiệm bồi thư ng cho bị hại Nghiêm Xuân T số tiền 46.450.000 đồng (bốn mươi sáu triệu bốn trăm năm mươi ngàn đồng).

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ lu t Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 2.322.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong th i hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong th i hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.

Kể từ ngày bị hại Nghiêm Xuân T có đơn yêu cầu thi hành án nếu bị cáo Võ Văn L chưa thi hành xong số tiền nêu trên thì hàng tháng bị cáo L còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ lu t Dân sự năm 2015.

Trư ng hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Lu t Thi hành án dân sự thì ngư i được thi hành án dân sự, ngư i phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thu n thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Lu t Thi hành án Dân sự; th i hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Lu t Thi hành án Dân sự.

Cỡ chữ