vanban.org

Bản án 182/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 30/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Võ Văn K, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt: bị cáo Võ Văn K 01 (Một) năm tù, thời gian ở tù tính từ ngày chấp hành án. Phần xử lý vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Khải - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Võ Văn K, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 182/2022/HSST
Ngày: 30/11/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T - TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Văn Thạch

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Hưng Quang

2. Bà Nguyễn Hoàng Bích Loan.

- Thư ký phiên tòa: ông Đắc Quốc Tuân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên tòa: ông Trần Hải Điền - Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 177/2022/HSST, ngày 10/11/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 177/2022/QĐXXST-HS ngày 18/11/2022, đối với bị cáo:

Võ Văn K (tên gọi khác: Năm Sinh) - sinh năm 1996. tại: tỉnh Bình Thuận. Hộ khẩu thường trú: khu phố Hải Tân 3, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện T, tỉnh Bình Thuận; chỗ ở: khu phố Minh Tân 2, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện T, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: làm biển; trình độ học vấn: 5/12; giới tính: nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt nam; con ông: Võ Văn Dân (đã chết) và bà Huỳnh Thị Gái; vợ: Nguyễn Thị Tư (không đăng ký kết hôn); con: có 01 người, sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: không; bị cáo được tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắc như sau:

Võ Văn K là đối tượng nghiện ma túy. Vào khoảng 20 giờ ngày 02 tháng 10 năm 2022 K đi đến khu vực chùa Tùng Lâm, thuộc xã Phan Rí Thành, huyện Bắc Bình gặp một người thanh niên, không rõ lai lịch nhờ mua 650.000 đồng Heroine, người thanh niên này đồng ý và đòi tiền công 200.000 đồng, K đồng ý và đưa cho người thanh niên 850.000 đồng. Người thanh niên nhận tiền và bỏ đi khoảng 20 phút thì quay lại đưa cho K 01 gói Heroine, K cất giấu Heroine trong người đưa về nhà của K ở khu phố Minh Tân 2, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện T cất giấu. Đến khoảng khoảng 12 giờ 30 phút ngày 05 tháng 10 năm 2022, Công an huyện T phối hợp với Công an thị trấn Phan Rí Cửa tiến hành tiến hành kiểm tra hành chính tại nhà của Võ Văn K thuộc khu phố Minh Tân 2, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện T phát hiện bắt quả tang K có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ bao gồm: Thu giữ trên nền nhà dưới cửa sổ nhà K có 01 cái rổ màu đỏ đường kính khoảng 22cm, bên trong rổ có chứa 01 gói nylon không màu có nẹp khóa một đầu màu trắng có kích thước khoảng 03 x 3,5cm, bên trong có nhiều hạt chất rắn dạng nén. K khai nhận đây là Heroine K cất giấu để sử dụng.

Tại bản kết luận giám định về ma túy số 1074/KL-KTHS ngày 12.10.2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận kết luận:

Mẫu M gửi đến giám định có khối lượng 0,7246 gam là Heroine.

Bản cáo trạng số: 183/CT-VKSTP-HS, ngày 10/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T, đã truy tố bị cáo Võ Văn K, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố và tranh luận vẫn giữ nguyên cáo trạng và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo từ 15 tháng đến 21 tháng tù.

Về phần xử lý vật chứng: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; đề nghị tịch thu tiêu huỷ mẫu vật còn lại sau giám định gồm: 01 gói nylon không màu, được hàn kín, có nẹp khóa một đầu màu trắng, kích thước khoảng 03cm x 3,5cm và 0,6312 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1074 và 01 cái rổ màu đỏ đường kính khoảng 22cm.

Lời nói sau cùng của bị cáo: hiện nay gia đình bị cáo khó khăn về kinh tế, bị cáo là lao động chính trong gia đình đang nuôi con nhỏ, xin Hội đồng xét xử xem xét, xử cho bị cáo một mức án thấp nhất, để bị cáo sớm trở về làm ăn nuôi con. Bị cáo hứa sẽ không tái phạm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên:

Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó có cơ sở khẳng định các hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp đúng quy định của pháp luật.

Về chứng cứ và hành vi của bị cáo:

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Võ Văn K đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu, bị cáo khẳng định những lời khai của mình trong quá trình điều tra vụ án là hoàn toàn tự nguyện, không bị bức cung, ép cung và cáo trạng truy tố là hoàn toàn đúng, không oan. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, kết quả giám định chất ma tuý và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 05 tháng 10 năm 2022, tại khu phố Minh Tân 2, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện T, tỉnh Bình Thuận, Võ Văn K đang cất giấu Heroine có tổng khối lượng 0,7246 gam để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang.

Vì vậy, bản cáo trạng số 183/CT-VKSTP-HS, ngày 10/11/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện T, truy tố bị cáo Võ Văn K, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) như đã viện dẫn trong cáo trạng là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.

Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:

Ma tuý, là loại độc dược, là chất gây nghiện mà Nhà nước đã nghiêm cấm các hoạt động sản xuất, tàng trữ, mua bán, sử dụng trái phép…đây là một trong những nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội, các căn bệnh thế kỷ, làm lây truyền vi rut gây bệnh khó chữa, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và sự phát triển giống nòi của dân tộc, thế nhưng bị cáo đã coi thường pháp luật, bất chấp hậu quả, thực hiện hành vi tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo rất nguy hiểm cho xã hội, nên cần phải xử lý bị cáo bằng một mức án nghiêm khắc, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, để có đủ thời gian cai nghiện và cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người tốt, công dân có ích cho xã hội, đồng thời để bảo vệ tính nghiêm minh của pháp luật hình sự Việt Nam.

Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, hiện nay gia đình bị cáo khó khăn về kinh tế, bị cáo là lao động chính trong gia đình đang nuôi con nhỏ, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); nên cần xem xét chiếu cố khi xử lý, để giảm nhẹ cho bị cáo một phần trong mức hình phạt, để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật Nhà nước Xã hội chủ nghĩa.

Về xử lý vật chứng:

Đối với mẫu vật được hoàn sau giám định gồm: 01 gói nylon không màu, được hàn kín, có nẹp khóa một đầu màu trắng, kích thước khoảng 03cm x 3,5cm và 0,6312 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1074 và 01 cái rổ màu đỏ đường kính khoảng 22cm, đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, vật không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy.

Về đối tượng có liên quan:

Đối với người thanh niên tại khu vực chùa Tùng Lâm thuộc xã Phan Rí Thành, huyện Bắc Bình, Bình Thuận đã bán Heroine cho K do chưa rõ lai lịch nên sẽ tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.

Về án phí:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của pháp luật.

Đối với quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tại phiên tòa là có căn cứ, nên được chấp nhận, nhưng cần xem xét thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) áp dụng mức án nhẹ hơn đề nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

2. Tuyên bố: bị cáo Võ Văn K, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

3. Xử phạt: bị cáo Võ Văn K 01 (Một) năm tù, thời gian ở tù tính từ ngày chấp hành án.

4. Phần xử lý vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu huỷ mẫu vật còn lại sau giám định gồm: 01 gói nylon không màu, được hàn kín, có nẹp khóa một đầu màu trắng, kích thước khoảng 03cm x 3,5cm và 0,6312 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1074 và 01 cái rổ màu đỏ đường kính khoảng 22cm (Vật chứng được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/11/2022)

5. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (30/11/2022).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ