vanban.org

Bản án 182/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 26/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngô Hoàng A phạm tội “Sử dụng con dấu hoặc tài

liệu giả của cơ quan, tổ chức”; của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngô Hoàng A - Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội s…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngô Hoàng A phạm tội “Sử dụng con dấu hoặc tài
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 182/2022/HS-ST
Ngày: 26 -09-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tường Linh

Hội thẩm nhân dân:

Bà Trương Thị Hồng Phương

Ông Phan Minh Thanh

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hoàng Đạt– Thư ký Tòa án nhân dân quận

Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí

Minh tham gia phiên tòa: Ông Dương Thanh Huy- Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 09 năm 2022 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố

Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 177/2022/HSST ngày 13/09/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 237/2022/QĐXXST-HS ngày 13/09/2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Ngô Hoàng A; Giới tính: Nam; sinh năm 1972 tại Thành phố Hà

Nội; Hộ khẩu thường trú: phường Ngọc Khánh, Thành phố Hà Nội; Chỗ ở: đường số 9, Phường 09, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: thợ xây; Con ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1937 (đã chết) và bà Ngô Hoàng Y, sinh năm 1946; Hoàn cảnh gia đình: Có vợ tên Bùi Hương G (đã ly hôn), có 02 (hai) con, con lớn tên Nguyễn Nhật M, sinh năm 2006, con út tên Nguyễn Bình M, sinh năm 2010; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo tại ngoại. (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 8 giờ ngày 22/4/2022, Nguyễn Ngô Hoàng A mang một giấy

thông báo số 000529/TB kết quả giải quyết, hủy bỏ đăng ký cư trú mang tên Nguyễn Ngô Hoàng A không ghi ngày, tháng, năm cùng 05 giấy photocopy của tờ giấy nêu trên đến Ủy ban nhân dân phường 8, quận Gò Vấp chứng thực bản sao. Sau khi chứng thực xong thì A mang hồ sơ đến phòng kinh tế thuộc Ủy ban nhân dân quận Gò Vấp nộp để xin giấy phép kinh doanh hộ cá thể ngành bán cà phê giải khát. Phòng kinh tế chỉ nhận hồ sơ xin giấy phép kinh doanh và căn cước công dân mang tên Nguyễn Ngô Hoàng A đã chứng thực bản sao, không nhận 05 giấy thông báo số 000529/TB đã chứng thực bản sao nên A mang về cất giữ. Đến 10 giờ cùng ngày Công an phường 9 quận Gò Vấp tiếp nhận trình báo của chị Lê Thị S là nhân viên của Ủy ban nhân dân phường 8, quận Gò Vấp phát hiện Nguyễn Ngô Hoàng A làm giả giấy tờ trên đến Ủy ban nhân dân phường 8 chứng thực sao y. Công an phường 9, quận Gò vấp đã mời Nguyễn Ngô Hoàng A đến trụ sở làm việc và thông báo cho A biết 06 giấy thông báo trên là giả và lập biên bản tạm giữ 05 thông báo số 000529/TB đã chứng thực bản sao và 01 giấy thông báo số 000529 có chữ ký của trung tá Phan Tấn H và dấu đóng của Công an phường 9, quận Gò Vấp, không ghi ngày, tháng, năm.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Gò Vấp, Nguyễn Ngô Hoàng

A khai nhận 06 tờ tài liệu nêu trên là giả do Nguyễn Ngô Hoàng A nhờ Phạm Ngọc A1 làm giúp A để nhằm mục đích đi xin giấy phép kinh doanh cá thể ngành cà phê giải khát (BL: 83,84;99- 100).

Cơ quan Cảnh sát điều tra công an quận Gò Vấp cho Nguyễn Ngô Hoàng

A và Phạm Ngọc A1 đối chất với nhau. Tuy nhiên, Phạm Ngọc A1 không thừa nhận làm giấy thông báo số 000529/TB có chữ ký của trung tá Phan Tấn H và dấu đóng của Công an phường 9, quận Gò Vấp(BL: 95,96).

Vật chứng vụ án:

- 01 giấy thông báo số 00529/TB kết quả giải quyết, hủy bỏ cư trú mang

tên Nguyễn Ngô Hoàng A.

- 05 giấy thông báo (bản sao) số 00529/TB kết quả giải quyết, hủy bỏ cư

trú mang tên Nguyễn Ngô Hoàng A.

Căn cứ kết luận giám định số 2610/KL- KTHS, ngày 2/6/2022 của Phòng

Kỹ Thuật Hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

1. Hình dấu tròn có nội dung “ CÔNG AN PHƯỜNG 9 –CÔNG AN

QUẬN GÒ VẤP TP HỒ CHÍ MINH” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1 (đã nêu ở mục II.1) so với hình dấu tròn có cùng nội dung trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M (đã nêu ở mục II.2) không phải do cùng một con dấu đóng ra.

2. Chữ ký mang tên Trung tá Phan Tấn H trên tài liệu cần giám định hiệu

A1 (đã nêu ở mục II.1) so với chữ ký của Trung tá Phan Tấn H trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M (đã nêu ở mục II.2) không phải do cùng một người ký ra.

3. 05 (năm) tài liệu cần giám định ký hiệu từ A2 đến A6, chữ ký mang tên

Trung tá Phan Tấn H trên 06 tài liệu cần giám định ký hiệu từ A2 đến A7 ( đã nêu ở mục II.1) là bản sao chụp nên không tiến hành giám định.

Đối với Phạm Ngọc A1 không thừa nhận làm giấy thông báo số 000529/TB

có chữ ký của trung tá Phan Tấn H và dấu đóng của Công an phường 9, quận Gò Vấp. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận Gò Vấp không có căn cứ xử lý (BL: 55 – 59).

Tại bản cáo trạng số 124/CTr-VKS ngày 12/09/2022 của Viện Kiểm sát

nhân dân quận Gò Vấp truy tố bị cáo Nguyễn Ngô Hoàng A về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định theo khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát luận tội, đưa ra quan điểm xét xử và

đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của

Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngô Hoàng A từ 06 đến 09 tháng tù, nhưng cho

hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng.

Về xử lý vật chứng đề nghị:

- Tịch thu lưu theo hồ sơ vụ án 01 giấy thông báo số 00529/TB kết quả giải

quyết, hủy bỏ cư trú mang tên Nguyễn Ngô Hoàng A và bản sao 05 giấy thông báo số 00529/TB kết quả giải quyết, hủy bỏ cư trú mang tên Nguyễn Ngô Hoàng A.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Gò

Vấp, Tp. Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò

Vấp công bố bản cáo trạng thì bị cáo Nguyễn Ngô Hoàng A đã khai nhận hành vi phạm tội là sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Lời khai nhận tội của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với tang vật vụ án

được thu giữ, phù hợp với kết luận điều tra của Công an quận Gò Vấp, với bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đối chiếu với điều luật tương ứng do Bộ luật hình sự quy định, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng hành vi của Nguyễn Ngô Hoàng A đã phạm vào tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 341 của Bộ luật hình sự.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bỡi lẽ đã xâm phạm đến

trật tự quản lý hành chính Nhà Nước, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an, đến các hoạt động của các cơ quan Nhà nước và các tổ chức. Ngoài ra, hành vi của bị cáo còn tiếp tay tạo điều kiện thúc đẩy cho các đối tượng xấu trong xã hội thực hiện các hành vi phạm tội khác ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực của cộng đồng dân cư trong xã hội, bị cáo có đủ năng lực nhận thức để biết rõ hành vi sử dụng con dấu giấy tờ hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức nhà nước là vi phạm pháp luật, nhưng vì muốn đạt được mục đích của mình là được xin giấy phép kinh doanh cá thể nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm. Bị cáo sử dụng 01 giấy thông báo số 00529/TB kết quả giải quyết, hủy bỏ cư trú mang tên bị cáo qua giám định là giả, nên Viện kiểm sát quận Gò Vấp truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 341 của Bộ luật hình sự là có cơ sở.

Tuy nhiên khi lượng hình cần xem xét cho bị cáo các tình tiết, tại Cơ

quan điều tra cũng như qua diễn biến phiên toà hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhân thân bị cáo tốt chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng ổn định, trong thời gian tại ngoại bị cáo không phạm thêm tội mới, chấp hành nghiêm chỉnh giấy triệu tập của cơ quan triến hành tố tụng. Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại tòa đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo, có thời gian thử thách, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khõi xã hội cho bị cáo được hưởng mức án với thời gian thử thách lâu dài cũng phù hợp với tính nhân đạo của pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam đối với người mới phạm tội lần đầu mà biết ăn năn hối cải .

Về hình phạt bổ sung được qui định tại khoản 4 điều 341 Bộ luật hình

sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Hội đồng xét xử xét tính chất của vụ án và hoàn cảnh của bị cáo nên miễn phạt.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 giấy thông báo số 00529/TB kết quả giải quyết, hủy bỏ cư trú

mang tên Nguyễn Ngô Hoàng A qua giám định là giả và bản sao 05 giấy thông báo số 00529/TB kết quả giải quyết, hủy bỏ cư trú mang tên Nguyễn Ngô Hoàng A không giám định được, nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu lưu theo hồ sơ vụ án.

Đối với Phạm Ngọc A1 là người bị cáo Hoàng A khai là người làm giả giấy

thông báo số 00529/TB kết quả giải quyết, hủy bỏ cư trú mang tên Nguyễn Ngô Hoàng A, nhưng qua điều tra và đối chất đối tượng Phạm Ngọc A1 không thừa nhận hành vi làm giấy tờ trên cho bị cáo Hoàng A. Hội đồng xét xử xét thấy ngoài lời khai của bị cáo Hoàng A và không có chứng cứ nào khác để buộc tội đối tượng A1 liên quan đến việc làm giả giấy thông báo số 00529/TB kết quả giải quyết, hủy bỏ cư trú mang tên Nguyễn Ngô Hoàng A, nên không đủ cơ sở để xử lý đối tượng Nguyễn Ngọc A1 về hành vi làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngô Hoàng A phạm tội “Sử dụng con dấu hoặc tài

liệu giả của cơ quan, tổ chức”;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65

của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngô Hoàng A 06(sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án

treo, thời gian thử thách là 01(một) năm. Tính kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường 09 quận Gò Vấp, giám sát và

giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp bị cáo hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện

theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách nếu cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án

sẽ ra quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án sẽ buộc bị

cáo chấp hành hình phạt của bản án này và tổng hợp hình phạt với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm

2017; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

- Tịch thu lưu theo hồ sơ vụ án 01 giấy thông báo số 00529/TB kết quả giải

quyết, hủy bỏ cư trú mang tên Nguyễn Ngô Hoàng A và bản sao 05 giấy thông báo số 00529/TB kết quả giải quyết, hủy bỏ cư trú mang tên Nguyễn Ngô Hoàng A.

Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính

kể từ ngày tuyên án.

Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7, 7a, 7b, Điều 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.

(Chủ tọa đã giải thích chế định án treo)

Nơi nhân:

Cỡ chữ