- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ông Nguyễn Bá L yêu cầu ly hôn với bà Huỳnh Thị L"
- Tòa quyết gì? Xét xử vắng mặt ông Nguyễn Bá L và bà Huỳnh Thị L.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị
| TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 182/2022/HNGĐ-ST Ngày: 30-9-2022 V/v Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Lan Anh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Tấn Lộc
2. Ông Trịnh Chí Linh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Chúc Ni là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thới
Bình, tỉnh Cà Mau.
Trong ngày 30 tháng 9 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình,
tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 292/2022/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2022 về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 262/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Bá L, sinh năm 1984 (xin vắng mặt)
Địa chỉ: Khóm A, phường B, thành phố CM, tỉnh Cà Mau.
2. Bị đơn: Bà Huỳnh Thị L, sinh năm 1984 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp C, xã TLB, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Trình bày của ông Nguyễn Bá L:
Hôn nhân: Ông Nguyễn Bá L và bà Huỳnh Thị L tự nguyện chung sống với
nhau vào năm 2008, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường B, thành phố CM, tỉnh Cà Mau vào ngày 12/3/2008, vợ chồng chung sống không hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn, ông L và bà L đã ly thân với nhau từ năm năm 2008 cho đến nay. Xét thấy vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau nên ông L yêu cầu được ly hôn với bà L.
Con chung: Ông Nguyễn Bá L và bà Huỳnh Thị L không có con chung nên
không đặt ra yêu cầu xem xét.
Tài sản chung, nợ chung: Không có nên không đặt ra yêu cầu xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên
tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng và quan hệ pháp luật tranh chấp: Ông Nguyễn Bá L khởi kiện
yêu cầu được ly hôn với bà Huỳnh Thị L. Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn; Bà Huỳnh Thị L có nơi cư trú tại ấp C, xã TLB, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của ông L thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ lần
thứ hai nhưng bà Huỳnh Thị L vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà Huỳnh Thị L theo quy định tại khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Hôn nhân: Ông Nguyễn Bá L và bà Huỳnh Thị L tự nguyện chung sống
với nhau vào năm 2008, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường B, thành phố CM, tỉnh Cà Mau vào ngày 12/3/2008, vợ chồng chung sống không hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn, ông L và bà L đã ly thân với nhau từ năm năm 2008 cho đến nay nên ông L yêu cầu được ly hôn với bà L. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa ông L và bà L đã tuân thủ về điều kiện đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 8, 9 của Luật hôn nhân và gia đình nên được pháp luật công nhận là vợ chồng. Thời gian chung sống, ông L xác định ông và bà L không còn tình cảm, vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông yêu cầu được ly hôn với bà L. Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành hòa giải để ông bà có điều kiện gặp nhau thỏa thuận đoàn tụ gia đình nhưng không có kết quả, do bà L vắng mặt tại các phiên hòa giải. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận cho ông Nguyễn Bá L được ly hôn với bà Huỳnh Thị L là phù hợp.
Về con chung: Ông Nguyễn Bá L và bà Huỳnh Thị L không có con chung
nên không đặt ra yêu cầu xem xét. Do đó, không xem xét.
Tài sản chung: Ông L xác định không có, bà L không có ý kiến gì về tài sản
chung vợ chồng nên không xem xét.
Về nợ chung: Ông L xác định vợ chồng không có nợ chung, bà L không có
ý kiến gì về vấn đề nợ chung vợ chồng. Quá trình giải quyết vụ án không ai đặt ra yêu cầu xem xét về nợ chung của vợ chồng nên không xem xét.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông L phải chịu án phí theo quy
định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39;
khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Xét xử vắng mặt ông Nguyễn Bá L và bà Huỳnh Thị L.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Bá L về việc ly hôn đối với
bà Huỳnh Thị L.
2.1. Về hôn nhân: Ông Nguyễn Bá L và bà Huỳnh Thị L được ly hôn.
2.2. Về con chung: Không có.
2.3. Tài sản chung, nợ chung: Không có.
3. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Nguyễn Bá L phải nộp
300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Vào ngày 25 tháng 7 năm 2022, ông L có dự nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0015140 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau nay được chuyển thu án phí.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Báo cho đương sự biết có quyền kháng
cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo luật định.
| Nơi nhận: - Các đương sự; -VKSND huyện Thới Bình; -Chi cục THADS huyện Thới Bình; -TAND tỉnh Cà Mau; - UBND phường B; -Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Lan Anh |