- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do mâu thuẫn về kinh tế — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị S. Nguyễn Văn Đ. Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Lê Thị S được ly hôn với anh Nguyễn Văn Đ.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 182/2021/HNGĐ-ST Ngày: 30/6/2021 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Tú
- Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Vương Thị Liên
Ông Lê Xuân Thư
-Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Dân - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân h. H
- Đại diện Viện kiểm sát ND huyện H tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Hoa
Ngày 30 tháng 6 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 111/2021/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2021 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị S, sinh năm 1986. “Có đơn xin xét xử vắng mặt”
Địa chỉ: thôn Đ, xã Th, huyện H, tỉnh Thanh Hoá.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1986. “Vắng mặt”
Địa chỉ: thôn Đ, xã Th, huyện H, tỉnh Thanh Hoá.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 06/4/2021, bản tự khai ngày 16/4/2021 và lời khai tại phiên hòa giải của nguyên đơn chị Lê Thị S thể hiện:
Về hôn nhân: Chị và anh Đ tự nguyện tổ chức cưới, được Ủy ban nhân dân xã P cấp giấy chứng nhận kết hôn năm 2009. Sau khi cưới vợ chồng chị sống bình thường được một thời gian thì xảy ra Nhều mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh Đ thường xuyên chơi bời, rượu chè, không chịu làm ăn, chị S khuyên ngăn anh Đ không chịu nghe lời còn đánh đập chị, có lúc nắm cả bát cơm hoặc đập cả chai bia vào mặt chị. Do đó tình cảm vợ chồng dần không còn, chị S nhận thấy không thể tiếp tục kéo dài hôn nhân thêm được nữa nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đ.
Về con: Vợ chồng anh chị có 03 con chung là cháu nguyễn Văn Ph, sinh ngày 04/7/2010, cháu Nguyễn Thị Yến Nh, sinh ngày 25/9/2017 và cháu Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 08/11/2018. Ly hôn nguyện vọng của chị S là được nuôi cả ba con, nếu anh Đ muốn nuôi một cháu thì chị cũng đồng ý. Hiện chị đã đón cả ba cháu về nuôi. Về cấp dưỡng: Chị S không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản và công nợ: không yêu cầu giải quyết.
Tại lời khai ngày 10/5/2021 và lời khai tại phiên hòa giải ngày 31/5/2021 của anh Nguyễn Văn Đ thể hiện:
Về hôn nhân: Anh và chị S tự do tìm hiểu tổ chức cưới và được Ủy ban nhân dân xã P cấp giấy chứng nhận kết hôn 2009. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chung sống bình thường cho đến thời gian khoảng tháng 9 năm 2020 xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh Đ ham vui giải trí, đánh bài nên vợ chồng cãi nhau và anh có tát chị S vài cái dẫn đến mâu thẫn, chị S bỏ đi từ tháng 01 năm 2021. Nay chị S đề nghị ly hôn, anh không đồng ý ly hôn anh tôi vẫn thương vợ con, anh xin chị S cho anh một cơ hội để vợ chồng đoàn tụ nuôi dậy các con vì ba con đang còn nhỏ.
Về con chung: Anh Đ và chị S có 03 con chung là cháu Nguyễn Văn Ph, sinh ngày 04/7/2010, cháu Nguyễn Thị Yến Nh, sinh ngày 25/9/2017 và cháu Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 08/11/2018.
Tại lời khai ngày 10/5/2021, anh Đ có nguyện vọng nuôi cả ba con và không yêu cầu cấp dưỡng. Nhưng trong lời khai tại phiên hòa giải ngày 31/5/2021, anh Đ trình bày: nếu phải ly hôn thì anh cũng đồng ý để chị S nuôi cả ba con, khi nào có anh sẽ cấp dưỡng nuôi các cháu sau.
Về tài sản và công nợ: Không yêu cầu giải quyết.
Tại bản tự khai của cháu Nguyễn Văn Ph thể hiện: Bố Nguyễn Văn Đ và mẹ Lê Thị S hiện nay không ở được với nhau phải ra Tòa ly hôn, cho cháu xin được ở với mẹ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H trình bày nhận xét về trình tự thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đầy đủ, đảm bảo trình tự, thủ tục từ khi thụ lý, xác minh về tình trạng hôn nhân và nguyên nhân xảy ra tranh chấp giữa anh Nguyễn Văn Đ và chị Lê Thị S, tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; người tham gia tố tụng đã được thực hiện đầy đủ, đảm bảo đúng các quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Quan điểm về việc giải quyết vụ án: Anh Nguyễn Văn Đ và chị Lê Thị S tự nguyện kết hôn, được cấp giấy chứng nhận kết hôn năm 2009. Sau khi kết hôn anh chị sống hòa thuận cho đến tháng 9 năm 2020 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Đ không chăm lo làm ăn, rượu chè và đánh đập vợ. Mặc dù anh Đ mong muốn được đoàn tụ nhưng chị S cương quyết ly hôn vì thấy không thể sống cùng anh Đ được nữa. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị S và anh Đ đã thực sự trầm trọng, không thể hàn gắn nổi, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết chấp nhận đề nghị xin ly hôn của chị Lê Thị S. Về con: Vợ chồng anh chị có 03 con chung là cháu Nguyễn Văn Ph, sinh ngày 04/7/2010, cháu Nguyễn Thị Yến Nh, sinh ngày 25/9/2017 và cháu Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 08/11/2018. Chị S đề nghị trực tiếp nuôi cả ba con và không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con, hiện chị đã đón cả 3 cháu về nuôi. Mặc dù tại bản tự khai anh Đ đề nghị nuôi cả 03 con, tuy Nhên tại phiên hòa giải có mặt cả anh Đ và chị S, anh Đ lại thống nhất để chị S được trực tiếp nuôi cả ba cháu, anh không cấp dưỡng nuôi con. Cháu Ph có nguyện vọng xin ở với mẹ. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử giao cả ba cháu Nguyễn Văn Ph, Nguyễn Thị Yến Nh và Nguyễn Thị Trà M cho chị Lê Thị S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp.
Về cấp dưỡng: Chị S không yêu cầu nên đề nghị không giải quyết.
Về tài sản và công nợ: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không xem xét.
Về án phí: Đề nghị buộc nguyên đơn là chị Lê Thị S phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Nguyên đơn chị Lê Thị S không có sự thay đổi, bổ sung, rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
Về hôn nhân: Anh Nguyễn Văn Đ và chị Lê Thị S tự nguyện kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã P, huyện H, Thanh Hóa cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 01/5/2009 theo đúng quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân gia đình, là hôn nhân hợp pháp.
Vợ chồng anh chị sống với nhau bình thường cho đến tháng 9 năm 2020 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Đ không chịu chăm lo cho gia đình, rượu chè và đánh đập vợ. Vì vậy chị S nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đ, anh không muốn ly hôn mà mong được hòa giải đoàn tụ vì thương các con. Tuy Nhên, chị S cương quyết ly hôn vì nhận tình trạng hôn nhân đã thực sự trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài mà hôn nhân dựa trên cơ sở tình yêu của cả hai người. Vì vậy Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị S là phù hợp với tình trạng hôn nhân hiện nay của anh chị.
Về con: Anh Nguyễn Văn Đ và chị Lê Thị S có 03 con chung là cháu Nguyễn Văn Ph, sinh ngày 04/7/2010, cháu Nguyễn Thị Yến Nh, sinh ngày 25/9/2017 và cháu Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 08/11/2018. Chị S đề nghị nuôi cả ba con, anh Đ không muốn ly hôn nhưng nếu chị S cương quyết ly hôn anh đồng ý để chị nuôi cả ba con, cháu Ph có mong muốn ở với mẹ. Vì vậy giao cả ba cháu Nguyễn Văn Ph, Yến Nh, Trà M cho chị Lê Thị S trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lê Thị S không yêu cầu nên không giải quyết.
Về tài sản: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tố tụng: Tòa án đã thu thập tài liệu chứng cứ bằng biện pháp xác minh về tình trạng hôn nhân và nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp giữa anh Nguyễn Văn Đ và chị Lê Thị S theo quy định tại khoản 3 Điều 208 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa ngày 24/6/2021, anh Nguyễn Văn Đ vắng mặt không có lý do dù đã được triệu tập hợp lệ nên Hội đồng xét xử đã hoãn phiên tòa theo quy định tại khoản 1 Điều 227, Điều 233 và 235 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay, anh Nguyễn Văn Đ vắng mặt không có lý do, chị Lê Thị S xin xét xử vắng mặt nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đưa vụ án ra xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định của pháp luật.
Về án phí: Nguyên đơn chị Lê Thị S phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 4 Điều 147, Điều 271, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 273, Điều 482 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 24; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Xử:
Về hôn nhân: Chị Lê Thị S được ly hôn với anh Nguyễn Văn Đ.
Về con: Công nhận cháu Nguyễn Văn Ph, sinh ngày 04/7/2010, cháu Nguyễn Thị Yến Nh, sinh ngày 25/9/2017 và cháu Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 08/11/2018 là con chung của anh Nguyễn Văn Đ và chị Lê Thị S.
Giao cháu Nguyễn Văn Ph, cháu Nguyễn Thị Yến Nh và cháu Nguyễn Thị Trà M cho chị Lê Thị S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về án phí: Chị Lê Thị S phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2019/0010355 ngày 07 tháng 4 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H. Chị Lê Thị S đã nộp đủ án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án mà người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Về quyền kháng cáo: Chị Lê Thị S và anh Nguyễn Văn Đ được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND huyện H; - Chi cục THADS huyện H; - UBND xã P; - UBND xã Th; - Các đương sự. - Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Lê Bỉnh Quyền Trịnh Thị Loan | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Ngọc Tú THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Ngọc Tú |