vanban.org

Bản án 182/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Không công nhận bà Dương Thị T với ông Nguyễn Hoàng D là vợ chồng.

Về nuôi con chung: Giao Nguyễn Kim N , sinh ngày 06/12/2002 và Nguyễn Kim N , sinh ngày 22/01/2007 cho bà Dương Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông Nguyễn Hoàng D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Dương thị Trải - Nguyễn Hoàng Diện"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận bà Dương Thị T với ông Nguyễn Hoàng D là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 182/2020/HNGĐ-ST
Ngày 10 - 8 - 2020
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Giang Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Kim Kết

Ông Nguyễn Văn Hiển

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Mai là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.

Ngày 10 tháng 8 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 310/2020/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2020 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 325/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 7 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Dương Thị T , sinh năm 1982; Cư trú tại: Ấp Thuận Lợi A, xã T , huyện Đ , tỉnh C (có mặt)

- Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng D , sinh năm 1978; Cư trú tại: Ấp Thuận L , xã T , huyện Đ , tỉnh C . (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện đề ngày 16/6/2020 trong qúa trình giải quyết nguyên đơn bà Dương Thị T trình bày:

Về hôn nhân: Bà với ông Nguyễn Hoàng D chung sống với nhau vào năm 2001, không có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống đến năm 2011 phát sinh nhiều mâu thuẫn do ông D thường uống rượu về chửi bà và ghen tuông vô cớ, không quan tâm, lo lắng cho gia đình. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình hai bên hòa giải hàn gắn nhưng ông D không sửa đổi, dẫn đến vợ chồng ly thân hơn 03 năm nay. Nay bà yêu cầu được ly hôn với ông D .

- Về nuôi con chung: Có 02 người con tên Nguyễn Kim N , sinh ngày 06/12/2002 và Nguyễn Kim N , sinh ngày 22/01/2007, hiện các con đang sống cùng bà. Khi ly hôn, bà yêu cầu được nuôi 02 con, cấp dưỡng không đặt ra.

- Về tài sản chung và nợ: Bà T xác định không có.

Đối với bị đơn ông Nguyễn Hoàng D : Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho ông D theo quy định pháp luật, nhưng ông D không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà T .

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Ông D là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau triệu tập hợp lệ đến Tòa án để tham gia tố tụng nhưng ông D vắng mặt không có lý do, căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông D .

Về hôn nhân. Bà Trải với ông D kết hôn vào năm 2001, hôn nhân tự nguyện, không đăng ký kết hôn và đến nay ông bà chưa đăng ký kết hôn theo quy định, do đó quan hệ hôn nhân của ông bà không có giá trị pháp lý theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.

Bà T yêu cầu ly hôn ông D với các lý do sau: Quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn do ông D thường uống rượu về chửi bà và ghen tuông vô cớ, không quan tâm, lo lắng cho gia đình. Nay, bà xác định không còn tình cảm với ông D nên yêu cầu được ly hôn với ông D . Do bà T với ông D chung sống với nhau trong thời gian dài, mặc dù đủ điều kiện kết hôn nhưng ông bà không đăng ký kết hôn nên không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình không công nhận bà T với ông D là vợ chồng.

Về nuôi con chung: Tên Nguyễn Kim N , sinh ngày 06/12/2002 và Nguyễn Kim N , sinh ngày 22/01/2007. Khi ly hôn, bà T yêu cầu được nuôi 02 con, cấp dưỡng không đặt ra. Hội đồng xét xử thấy rằng, tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình quy định “…vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; …nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Viện dẫn từ điều luật trên thấy rằng, tại biên bản ghi nguyện vong của cháu N và cháu N vào ngày 03/7/2020 các cháu có nguyện vong ở với mẹ là bà T . Do đó, cần giao cháu N và cháu N cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng. Ông D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cấp dưỡng nuôi con bà T chưa yêu cầu, nên không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung và nợ: Bà T xác định không có.

Án phí dân sự sơ thẩm: Tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27, điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do đó, bà T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53, Điều 81, khoản 3 Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Không công nhận bà Dương Thị T với ông Nguyễn Hoàng D là vợ chồng.

2. Về nuôi con chung: Giao Nguyễn Kim N , sinh ngày 06/12/2002 và Nguyễn Kim N , sinh ngày 22/01/2007 cho bà Dương Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Ông Nguyễn Hoàng D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét.

3. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà T phải chịu 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0010779 ngày 16/6/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi; bà Trải đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bà T có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ông D có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ