vanban.org

Bản án 182/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hóc Môn, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 11/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuy n bố bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T phạm tội “T ng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ng y bắt chấp h nh án. Tịch thu ti u hủy: 01 gói ni m phong số 1247 b n ngo i có chữ ký giám định vi n Trần Đình Hải; 01 túi da m u đen. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuy n bố bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T phạm tội “T ng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÓC MÔN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 182/2019/HS-ST
Ngày: 11/11/2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Phương Nam

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Thị Khanh

Ông Huỳnh Văn Đẹp

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Quỳnh Như – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, TP. Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, TP. Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Đức Đạt - Kiểm sát vi n.

Ngày 11/11/2019 tại Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 156/2019/HSST ngày 13/9/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 206/2019/QĐXXST-HS ngày 28/10/2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Ngọc T - sinh năm: 1994 tại: Th nh phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nữ; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp D, xã T, huyện H, Th nh phố Hồ Chí Minh; Nơi đang cư trú: ấp T, xã T, huyện H, Th nh phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Nguyễn Quốc S và bà Trần Thị Thu S’; Bị cáo có 02 con (con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2019); Tiền án: Không; tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 25/7/2012 bị Tòa án nhân dân Th nh phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù treo về tội “Che dấu tội phạm” theo Bản án số 238/2012/HSST (chấp h nh xong ng y 25/01/2014), ng y 28/01/2015 bị Tòa án nhân dân Quận 12 Quyết định áp dụng biện pháp xử lý h nh chính đưa v o cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 18 tháng (chấp h nh xong ng y 28/7/2016); Bị cáo được tại ngoại; Bị cáo có mặt tại phi n tòa.

Những người tham gia tố tụng khác: Không có.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các t i liệu có trong hồ sơ vụ án v diễn biến tại phi n tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 05/6/2019, tại giao lộ đường li n xã Thị trấn - Tân Hiệp với đường Tân Hiệp 17, Tổ 8, ấp Thới Tây 2, xã Tân Hiệp, huyện Hóc Môn, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Hóc Môn phố hợp với Công an xã Tân Hiệp, huyện Hóc Môn bắt quả tang Nguyễn Thị Ngọc T đang có h nh vi cất giữ trái phép ma túy để sử dụng. Thu giữ trong túi da m u đen của T đang đeo có 06 gói nylon chứa tinh thể không m u, 03 điện thoại di động. Trong lúc bắt quả tang T thì có Trần Thị Hồng N có biểu hiện nghi vấn n n Công an mời về trụ sở l m việc để l m rõ mối quan hệ với T .

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn, T khai nhận bản thân l đối tượng nghiện ma túy. Nguồn ma túy T mua của người phụ nữ t n Ngọc (không rõ lai lịch) ở Ngã tư An Sương thuộc xã B Điểm, huyện Hóc Môn. Khoảng 20 giờ 00 phút ng y 05/6/2019, do cần ma túy sử dụng n n T ra khu vực Bến xe An Sương gặp người phụ nữ t n Ngọc đặt mua 07 gói ma túy đá với giá 1.000.000đồng. Sau khi có ma túy, T cất giấu v o trong túi da m u đen đang đeo rồi đón xe honda ôm đến nh cha nuôi l ông Châu Sâm M tại nh không số, ấp T, xã T, huyện Hóc Môn. Tại đây, T gặp Trần Thị Hồng N, T v o nh vệ sinh lấy 01 gói ma túy đá ra sử dụng với N. Sau khi sử dụng ma túy, T nhờ N chở về Bưu điện Hóc Môn để đón xe về lại khách sạn. N đồng ý rồi dùng xe máy biển số 59Y1-086.37 chở T đến Bưu điện Hóc Môn nhưng đi được một đoạn thì xe hết xăng tại giao lộ đường li n xã Thị trấn - Tân Hiệp với đường Tân Hiệp 17 v bị Công an phát hiện bắt quả tang.

Trần Thị Hồng N l người nghiện ma túy, khi thấy T sử dụng ma túy thì xin sử dụng cùng không có li n quan h nh vi phạm tội của T , Cơ quan công an đã giao T và các vật thu giữ kèm theo cho Công an xã Tân Hiệp xử lý h nh chính.

Đối với ông Châu Sâm M không biết việc T và N cùng sử dụng ma túy tại nh của mình, không đủ cơ sở truy cứu trách nhiệm hình sự về h nh vi “chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.

Đối với người phụ nữ t n Ngọc đã bán ma túy cho T , do T khai không rõ lai lịch n n không đủ căn cứ xử lý.

Bản kết luận giám định số 1247/K GĐ-H ng y 14/6/2019 của Phòng k thuật hình sự Công an Th nh phố Hồ Chí Minh kết luận: Tinh thể không m u được ký hiệu mẫu m cần giám định (đã n u ở mục II-1) l ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,9158g (một phẩy chín một năm tám gam), loại Methamphetamine.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Hóc Môn, T khai nhận h nh vi phạm tội như đã n u tr n.

Vật chứng thu giữ:

- 01 gói ni m phong số 1247 là ma túy (MA) còn lại sau giám định;

- 01 điện thoại di động hiệu Itel, l điện thoại T li n lạc để mua ma túy;

- 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu Itel, 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu Mobistar, T dùng để li n lạc cá nhân;

- 01 túi da m u đen T dùng để cất giấu ma túy.

Tại bản Cáo trạng số 153/CT-VKS-HS ngày 11/9/2019, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn để xét xử bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T về tội “T ng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt l Bộ luật hình sự).

Tại phi n tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn sau khi n u lại nội dung vụ án, phân tích tính chất, mức độ h nh vi phạm tội v hậu quả do h nh vi của bị cáo đối với người bị hại v đối với xã hội đồng thời n u l n tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm n, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù. Về xử lý vật chứng: đề nghị tịch thu ti u hủy 01 gói ma túy ni m phong số 1247, 01 túi da m u đen; đề nghị tịch thu, nộp ngân sách nh nước 01 điện thoại di động hiệu Itel, trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu Itel, 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu Mobistar.

Tại phi n tòa, bị cáo thừa nhận h nh vi như luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tr n cơ sở nội dung vụ án, căn cứ v o các t i liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phi n tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Các h nh vi, quyết định tố tụng của những người tiến h nh tố tụng, cơ quan tiến h nh tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Người bị buộc tội v những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về các h nh vi, quyết định tố tụng của những người tiến h nh tố tụng, cơ quan tiến h nh tố tụng. Như vậy, các h nh vi, quyết định tố tụng của những người tiến h nh tố tụng, cơ quan tiến h nh tố tụng đã thực hiện l hợp pháp.

ời khai của bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T phù hợp với bi n bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, cùng các t i liệu, chứng cứ khác do cơ quan điều tra thu thập được có trong hồ sơ của vụ án. Vì vậy, đủ cơ sở kết luận v o ng y 05/6/2019, Nguyễn Thị Ngọc T đang cất giữ 06 gói nylon chứa tinh thể không m u thì bị công an bắt giữ cùng tang vật. Căn cứ kết luận giám định số 1247/K GĐ-H ng y 14/6/2019 của Phòng k thuật hình sự Công an th nh phố Hồ Chí Minh có đủ cơ sở xác định tinh thể không m u trong 06 gói nylon thu giữ của T l l ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,9158g (một phẩy chín một năm tám gam), loại Methamphetamine.

H nh vi cất giữ ma túy để sử dụng của T đã phạm v o tội “T ng trữ trái phép chất ma tuý” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, th nh phố Hồ Chí Minh đã truy tố để xét xử bị cáo theo điều luật đã viện dẫn tr n l đúng người, đúng tội, n n buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo luật định.

H nh vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền của Nh nước đối với các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được h nh vi t ng trữ trái phép chất ma túy l nguy hiểm cho bản thân v xã hội nhưng vẫn cố ý phạm tội. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận định cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với h nh vi phạm tội v cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục đối với bị cáo cũng như phòng ngừa chung cho xã hội. Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử có xem xét:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo th nh khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội khi đang có thai do đó Hội đồng xét xử áp dụng điểm n, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử nhận định bị cáo đang nuôi con nhỏ, không có nghề nghiệp, không có điều kiện kinh tế vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung l phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 gói ni m phong số 1247 b n ngo i có chữ ký giám định vi n Trần Đình Hải (là ma túy còn lại sau khi giám định), 01 túi da m u đen: Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự quyết định tịch thu ti u hủy.

Đối với 01 điện thoại di động Itel, l điện thoại bị cáo li n lạc để mua ma túy: Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự quyết định tịch thu, nộp ngân sách nh nước.

Đối với 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu Itel, 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu Mobistar, l t i sản cả nhân của bị cáo n n Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, quyết định trả lại cho bị cáo.

Đối với Trần Thị Hồng N l người nghiện ma túy, khi thấy T sử dụng ma túy thì xin sử dụng cùng không có li n quan h nh vi phạm tội của T . Đối với ông Châu Sâm M không biết việc T và N cùng sử dụng ma túy tại nh của mình, không đủ cơ sở truy cứu trách nhiệm hình sự về h nh vi “chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm l 200.000đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm n, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Tuy n bố bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T phạm tội “T ng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ng y bắt chấp h nh án.

2. Căn cứ điểm a, điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu ti u hủy: 01 gói ni m phong số 1247 b n ngo i có chữ ký giám định vi n Trần Đình Hải; 01 túi da m u đen.

Tịch thu, nộp ngân sách nh nước 01 điện thoại di động hiệu Itel (đã qua sử dụng, m n hình bể).

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu Itel, 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu Mobistar (các điện thoại di động đã qua sử dụng, m n hình bể).

(Vật chứng được ghi theo Bi n bản giao, nhận vật chứng ng y 12/11/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Hóc Môn v Chi cục Thi h nh án dân sự huyện Hóc Môn).

3. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ng y 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về quy định về án phí, lệ phí Tòa án:

Bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm l 200.000 (hai trăm ng n) đồng.

4. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ng y kể từ ng y tuy n án.

5. Căn cứ uật thi h nh án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014);

Trường hợp bản án, quyết định được thi h nh theo quy định tại Điều 2 uật thi h nh án dân sự thì người được thi h nh án dân sự, người phải thi h nh án dân sự có quyền thỏa thuận thi h nh án, quyền y u cầu thi h nh án, tự nguyện thi h nh án hoặc bị cưỡng chế thi h nh án theo quy định tại các Điều 6,7 v 9 uật thi h nh án dân sự; thời hiệu thi h nh án theo quy định tại Điều 30 uật thi h nh án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ