- Tranh chấp gì? án hình sự — "Các bị cáo Trần Văn P và Ngô Minh H phạm tội “Trộm cắp tài sản” - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Văn P và Ngô Minh H; giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 184/2019/HS-ST ngày 10 tháng 10 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau về hình phạt; sửa án sơ thẩm về áp dụng điều luật và không buộc các bị cáo phải nộp lại tiền…
- Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 182/2019/HS-PT Ngày 29 - 11 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Trọng Nhân
Các Thẩm phán: Ông Chung Văn Kết
Bà Châu Minh Hoàng
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thu Khiếm là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa:
Bà Quách Xía Muội – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 183/2019/TLPT-HS ngày 14 tháng 11 năm 2019 đối với các bị cáo Trần Văn P, Ngô Minh H; do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 184/2019/HS-ST ngày 10 tháng 10 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
- Các bị cáo có kháng cáo:
1. Họ và tên: Trần Văn P (tên gọi khác: Phi Địa), sinh năm 1991, tại tỉnh Cà Mau; nơi cư trú: Số 92, đường LM, khóm 2, phường 8, thành phố CM, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn C và bà: Lê Thị Thùy H1; vợ, con: Không; tiền án (02 lần): Lần thứ nhất: Tại bản án số: 15/2014/HS-PT ngày 10/02/2014, của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xử phạt 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/7/2016; chấp hành xong án phí ngày 02/6/2014. Lần thứ hai: Tại bản án số: 225/2017/HS-ST ngày 05/12/2017, của Tòa án nhân thành phố Cà Mau xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/02/2019 (bản án áp dụng tình tiết tái phạm); tiền sự: Không; nhân thân: Tại bản án số: 63/2009/HS-ST ngày 23/4/2009, của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tại bản án số: 59/2010/HS-ST ngày 12/5/2010, của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tại bản án số: 68/2010/HS-PT ngày 18/5/2010, của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Tại Quyết định số: 126/2019/QĐ-TA ngày 06/5/2019, của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 16 tháng; bị bắt tạm giam ngày: 04/6/2019; bị cáo bị tạm giam có mặt.
2. Họ và tên: Ngô Minh H (tên gọi khác: H Nhóc), sinh năm 1993, tại tỉnh Cà Mau; nơi cư trú: Số 248A, đường TPX, khóm 2, phường 8, thành phố CM, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Biết đọc biết viết; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Ngô Thanh T và bà: Trương Thị Ái L; vợ, con: Không; tiền án: Tại bản án số: 28/2017/HS-ST ngày 22/11/2017, của Tòa án nhân dân Thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/12/2018; tiền sự: Không; nhân thân: Tại bản án số: 34/HSST ngày 22/3/2012, của Tòa án nhân dân Quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/5/2012. Tại Bản án số: 120/2019/HS-ST ngày 11/7/2019, của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; chấp hành xong hình phạt ngày 30/9/2019; bị tạm giam ngày: 30/9/2019; bị cáo bị tạm giam có mặt.
- Những người tham gia tố tụng khác có liên quan đến kháng cáo:
- Bị hại: Nguyễn Minh H2, sinh năm 1998, địa chỉ: Ấp Tân Phong B, xã HT, thành phố CM, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại Pên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 12/3/2019, Ngô Minh H và Trần Văn P đi bộ từ hướng bến tàu B về cầu Gành Hào thuộc khóm 7, phường 8, thành phố Cà Mau. H phát hiện Nguyễn Minh H2 bỏ tiền vào cốp xe môtô biển kiểm soát 69N1-387.19 đậu trước tiệm game bắn cá Quyền. H rủ P lấy trộm tiền tiêu xài được P đồng ý. Khi H2 đi khỏi xe, vào hẻm, H và P đi đến nơi xe 69N1-387.19 đậu, P dùng hai tay nâng yên xe lên, H đưa tay vào cốp xe lấy trộm số tiền 9.600.000 đồng bỏ vào túi quần, cả hai đi về phía ngã tư hẻm 19/5 và đường kênh Tỉnh đội thuộc khóm 1, phường 8 thành phố Cà Mau. Khi phát hiện bị mất tiền, H2 nhờ ngườ i tim giúp và
̀ xem camera trước tiệm game bắn cá Quyền, biết P và H là người lấy trộm. Bà Trương Ái H3, dì ruột của H đi tìm lấy lại tiền cho H2. H giao trả 8.550.000 đồng, lén giấu lại 1.050.000 đồng cùng P tiêu xài cá nhân. Sau khi lấy l ại số tiền 8.550.000 đồng từ H3, H2 biết không đủ nên đến Công an trình báo vụ việc.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 184/2019/HS-ST ngày 10 tháng 10 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau quyết định:
Áp dung điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoả n 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Văn P 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; thời hạn tù tính từ ngày 04/6/2019.
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h Điều 52 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Ngô Minh H 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; thời hạn tù tính từ ngày 30/9/2019.
Buộc Ngô Minh H và Trần Văn P liên đới nộp lại số tiền 1.050.000 đồng để tịch thu sung quỹ nhà nước.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 17 tháng 10 năm 2019, các bị cáo Trần Văn P và Ngô Minh H có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa, các bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các bị cáo Trần Văn P và Ngô Minh H; giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 184/2019/HS-ST ngày 10 tháng 10 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại Pên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm, lời khai nhận tội của các bị cáo Trần Văn P và Ngô Minh H phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án cho thấy: Khoảng 15 giờ ngày 12/3/2019, phát hiện thấy Nguyễn Minh H2 bỏ tiền vào cốp xe môtô biển kiểm soát 69N1-387.19 đậu trước tiệm game bắn cá Quyền tại khóm 7, phường 8, thành phố Cà Mau. Ngô Minh H rủ Trần Văn P lấy trộm tiền chia nhau tiêu xài, được P đồng ý. Khi H2 rời khỏi xe, P dùng tay nâng yên xe lên, H đưa tay vào cốp xe lấy được số tiền 9.600.000đ. Khi sự việc bị phát hiện, H giao trả 8.550.000 đồng, giữ lại 1.050.000 đồng cùng P chi xài. Hành vi lén lúc lấy trộm tiền của các bị cáo Trần Văn P và Ngô Minh H là chiếm đoạt tài sản người khác trái pháp luật, vi phạm pháp luật hình sự, phạm tội nên phải bị xử lý và chịu hình phạt của pháp luật. Án sơ thẩm số: 184/2019/HS-ST ngày 10 tháng 10 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xử phạt các bị cáo Trần Văn P và Ngô Minh H phạm tội “Trộm cắp tài sản” là có căn cứ pháp luật, đúng với hành vi phạm tội của các bị cáo. Trong đó bị cáo P phạm tội theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự với tình tiết định khung là “Tái phạm nguy hiểm”; bị cáo H phạm tội theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Trần Văn P và Ngô Minh H nhận thấy: Trong vụ án các bị cáo đều là người có nhân thân xấu, nhiều lần phạm tội bị xử lý hình sự nhưng không biết cải sửa, tiếp tục phạm tội. Lần phạm tội này, bị cáo H là người khởi xướng, rủ bị cáo P cùng thực hiện hành vi lấy trộm tài sản. Tài sản các bị cáo chiếm đoạt được là số tiền 9.600.000 đồng. Song do bị cáo P có 02 tiền án, chưa được xóa án tích nên lần pha ̣m tô ̣i này của bi ̣ cáo thuô ̣c trườ ng hợp tái pha ̣m nguy hiểm ; bị cáo H có 01 tiền án nên phạm tội có tình tiết tăng nặng thuộc trường hợp tái phạm. Án sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ đối với các bị cáo là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên xử phạt bị cáo P 03 năm tù, phạt bị cáo H 01 năm 06 tháng tù là tương xứng tính chất vụ án, mức độ phạm tội, nhân thân của từng bị cáo. Các bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không có tình tiết giảm nhẹ mới, nên không có căn cứ để chấp nhận, cần giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm đã xử, để các bị cáo có thời gian cải tạo, sửa đổi trở thành người có ích sau này.
Tuy nhiên, cấp sơ thẩm có sai sót cần phải sửa án như: Việc áp dụng điểm h Điều 52 (thiếu khoản 1) của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo H là chưa chính xác, cần sửa lại chính xác là áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Án sơ thẩm tuyên buộc bị cáo Ngô Minh H và Trần Văn P liên đới nộp lại số tiền 1.050.000 đồng để tịch thu sung quỹ nhà nước là không đúng. Bởi lẽ, số tiền này các bị cáo chiếm đoạt của bị hại H2 chưa trả lại đủ nhưng trong quá trình điều tra bị hại H2 xác định không yêu cầu các bị cáo tiếp tục trả lại. Đây là sự tự nguyện và là quyền của bị hại không yêu cầu bồi thường nên không buộc các bị cáo nộp lại để tịch thu sung quỹ nhà nước.
Do yêu cầu kháng cáo của các bị cáo không được chấp nhận, nên mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355; điểm d khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Văn P và Ngô Minh H; giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 184/2019/HS-ST ngày 10 tháng 10 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau về hình phạt; sửa án sơ thẩm về áp dụng điều luật và không buộc các bị cáo phải nộp lại tiền để tịch thu sung quỹ nhà nước.
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoả n 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Văn P 03 (ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; thời hạn tù tính từ ngày: 04/6/2019.
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Ngô Minh H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; thời hạn tù tính từ ngày: 30/9/2019.
2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo Trần Văn P và bị cáo Ngô Minh H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau; - Công an tỉnh Cà Mau; - Trại tạm giam – CA tỉnh Cà Mau; - Công an thành phố Cà Mau; - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau; - Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau; - Chi cục THADS thành phố Cà Mau; - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác; - Lưu: Hồ sơ vụ án; Tòa HS; án văn; - Lưu VT( TM:TANDTCM). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Trọng Nhân |