vanban.org

Bản án 182/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H ;

{1}. Về tình cảm: cho chị Nguyễn Thị H được li hôn với anh Trần Bá H1. {2}. Về con chung: Giao 02 con chung của vợ chồng là các cháuTrần Bá T (giới tính: Nam) sinh ngày 24 tháng 10 năm 2008 và cháuTrần Tuệ N (giới tính: Nữ) sinh ngày 19 tháng 6 năm 2015 cho chị Nguyễn Thị H tiếp tục trực tiếp nuôi d… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị H xin li hôn Trần Bá H1"
  • Tòa quyết gì? Xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H ;
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGHI LỘC
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:182/2019/ HNGĐ- ST
Ngày:30.8.2019
(V/v xin ly hôn và quyền nuôi con )

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Loan Hòa Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Đức Dũng; ông Lê Quang Hòa

- Thư ký phiên tòa: Ông Vương Thanh Minh- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Anh- Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 126/2019/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2019 về việc li hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 126/2019/QĐXX-ST ngày 15 tháng 8 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H- sinh năm 1983

Địa chỉ: xóm V, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Trần Bá H1- sinh năm 1982

Địa chỉ: xóm 7, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện xin li hôn đề ngày 28.3.2019 và các lời khai, biên bản phiên hòa giải trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:

{1}.Về tình cảm: Chị và anh Trần Bá H1 lấy nhau có đăng kí kết hôn vào ngày 26 tháng 12 năm 2007 tại UBND xã N , huyện N , tỉnh Nghệ An. Vợ chồng sống chung hạnh phúc được vài năm. Sau đó, cả hai vợ chồng về bên ngoại tại Thái Nguyên chung sống, làm ăn. Tuy nhiên đến cuối năm 2017 mâu thuẫn vợ chồng xảy ra do cả hai không có cùng quan điểm sống. Hai vợ chồng đã có nhiều lần căng thẳng nhưng do vì con cái nên đã cố tự hòa giải cũng như gia đình hai bên vun vén nhưng vẫn không được. Vợ chồng li thân từ đó. Hiện nay do xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị làm đơn ra Tòa, tha thiết xin được Tòa án cho được li hôn với anh Trần Bá H1.

{2}. Về con cái: vợ chồng có 02 con chung là các cháu:

- Trần Bá T - sinh ngày 24 tháng 10 năm 2008;

- Trần Tuệ N - sinh ngày 19 tháng 6 năm 2015.

Từ năm 2017, anh Trần Bá H1 đã về bên nội tại xã N , huyện N , tỉnh Nghệ An sinh sống nên cả hai cháu đang ở và ăn học với chị tại xã T , huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.

Nguyện vọng của chị H xin được nuôi cả hai cháu và hiện tại chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

{3}. Về tài sản, nợ và vay nợ: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

{4}. Về án phí: chị H xin chịu án phí li hôn.

Bị đơn là anh Trần Bá H1 đã nhận hợp lệ các tài liệu, văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không hợp tác với Tòa án để tiến hành hòa giải nhằm tạo cơ hội cho cả hai bên đoàn tụ, xây dựng hạnh phúc gia đình nên cũng không có văn bản, tài liệu nào thể hiện ý chí của anh trong hồ sơ.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tiến hành và người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước lúc nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Việc thụ lý đúng thẩm quyền; xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng; chuyển hồ sơ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho Viện kiểm sát, thời hạn giải quyết đúng quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát có quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56; 81, 82 và 83 luật Hôn nhân và gia đình để chấp nhận nguyện vọng được li hôn của nguyên đơn; Xem xét các tình tiết hoàn cảnh sống của các bên, nguyện vọng của các cháu, đề nghị giao cả hai cháu là Trần Bá T và Trần Tuệ N là con chung của anh chị cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật; Tạm hoãn việc đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cho anh H1 theo ý chí của nguyên đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết về án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:

{1}. Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thu thập lời khai nguyên đơn, họp phiên công khai chứng cứ hợp lệ; việc nguyên đơn cung cấp tài liệu, chứng cứ đúng trình tự quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng. Đối với anh Trần Bá H1, việc giao nhận, tống đạt thực hiện hợp lệ nhưng anh không đến Tòa án khai nại nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh theo quy định tại Điều 227 bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 để đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho nguyên đơn.

{2}. Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Xét chị Nguyễn Thị H và anh Trần Bá H1đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N , huyện N ngày 26 tháng 12 năm 2007; đã được cấp Giấy chứng nhận kết hôn và không vi phạm các quy định về kết hôn tại điều 8, điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Như vậy quan hệ hôn nhân đó là hợp pháp.

Về tình cảm: Xét anh Trần Bá H1 và chị Nguyễn Thị H lấy nhau có đăng kí kết hôn và hoàn toàn tự nguyện. Sau một thời gian chung sống với nhau thì vợ chồng liên tục phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân là do tính tình không phù hợp, quan điểm sống khác biệt dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn. Từ hơn 2 năm cho đến nay vợ chồng sống ly thân, cắt đứt mọi quan hệ. Mặc dù Tòa án triệu tập với mong muốn hòa giải, phân tích để vợ chồng quay về chung sống nuôi dạy con nhưng anh vẫn không có ý muốn đoàn tụ, không đến Tòa án khai nại, trình bày. Xét nguyện vọng tha thiết xin được li hôn của chị Nguyễn Thị H là hợp pháp, không trái đạo đức xã hội nên cần áp dụng điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cho chị Nguyễn Thị H được li hôn với anh Trần Bá H1.

Về con chung: Xét quá trình chung sống, vợ chồng có 02 con chung là các cháu:

- Trần Bá T - sinh ngày 24 tháng 10 năm 2008;

- Trần Tuệ N - sinh ngày 19 tháng 6 năm 2015.

Hiện tại cả hai cháu đang ở với chị tại xã T , huyện P , tỉnh Thái Nguyên.

Nguyện vọng của chị H xin được nuôi cả hai cháu và chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

Xét các tình tiết về tuổi của con chung và hoàn cảnh sống của các bên: từ trước tới nay, hai cháu đều sinh sống với chị H; Hiện đang theo học các trường tại xã T , huyện P , tỉnh Thái Nguyên; Hội đồng xét xử thấy nên chấp nhận nguyện vọng của chị H , tiếp tục giao cả hai cháu cho chị trực tiếp nuôi dưỡng như từ trước đến nay là phù hợp với thực tế sống, phù hợp cho các cháu ổn định tâm sinh lí, phát triển hoàn thiện, không trái với quy định của pháp luật. Căn cứ vào nguyện vọng của nguyên đơn nên xét tạm hoãn việc đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Trần Bá H1.

{3}. Về tài sản chung, nợ và cho vay nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn đều không yêu cầu Tòa án giải quyết, bị đơn vắng mặt nên Hội đồng xét xử không xét.

{4}. Về án phí: chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ án phí li hôn sơ thẩm;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56; 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14;

Xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H ;

{1}. Về tình cảm: cho chị Nguyễn Thị H được li hôn với anh Trần Bá H1.

{2}. Về con chung: Giao 02 con chung của vợ chồng là các cháuTrần Bá T (giới tính: Nam) sinh ngày 24 tháng 10 năm 2008 và cháuTrần Tuệ N (giới tính: Nữ) sinh ngày 19 tháng 6 năm 2015 cho chị Nguyễn Thị H tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc.

Tạm hoãn nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Trần Bá H1.

Anh Trần Bá H1 có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Nếu anh H1 lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung thì chị H có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chung của anh Trần Bá H1.

Quyết định này được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án và tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án Dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

{3}. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí li hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã đóng tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Nghi Lộc theo biên lai số 0005600 ngày 05.6.2019; Chị Hưởng đã nạp đủ án phí.

{4}. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ