vanban.org

Bản án 182/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,

quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Bé T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà T yêu cầu ly hôn với ông V"
  • Tòa quyết gì? của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…

TÒ A ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 182/2018/HNGĐ-ST

Ngày: 27/09/2018

HUYỆN CHỢ MỚI Độc lập - Tự do - Hạnh phúc V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒ A ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Tới. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thanh Sang. Bà Phan Thị Nga. - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thi, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lộc – Kiểm sát viên Ngày 27 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 406/2018/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 6 năm 2018 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 155/2018/QĐXXST - HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2018 giữa các đương sự: - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bé T, sinh năm 1971. (có mặt) Cư trú: Ấp T, xã M, huyện C, tỉnh An Giang. - Bị đơn: Ông Trần Quang V, sinh năm 1970. (vắng mặt) Cư trú: Ấp T, xã M, huyện C, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 01 tháng 6 năm 2018 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bé T trình bày: Bà và ông V chung sống với nhau năm 2006, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M theo giấy chứng nhận kết hôn số 59/2006, quyển só 01 ngày 24 tháng 5 năm 2006, sống hạnh phúc đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn và ly thân đến nay. Nguyên nhân do tính tình không hợp, thường xuyên cự cải, ông

V không lo làm ăn. Hiện nay tình cảm không còn, bà xin được ly hôn với ông V. Về con chung: Vợ chồng có 02 (hai) con chung tên Trần Đức H, sinh ngày 22/11/2001; Trần Phương Trúc Q, sinh ngày 31/10/2003. Hiện cháu H, cháu Q đang sống với bà T. Khi ly hôn, bà yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 02 (hai) con chung, không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết. Ông Trần Quang V vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định của pháp luật. Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Bà T và ông V kết hôn năm 2006, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông V không lo làm ăn, không quan tâm đến gia đình, thường hay uống rượu, đánh bà T nhiều lần, vợ chồng thường hay cự cãi nhau và ly thân từ tháng 4/2018 đến nay. Nay, nhận thấy tình cảm không còn, bà T yêu cầu xin ly hôn với ông V, ông V không có ý kiến phản hồi và không tạo điều kiện để hàn gắn hạnh phúc vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên việc bà T yêu cầu xin ly hôn với ông V là phù hợp Điều 56 Luật hôn nhân gia đình. Về con chung: Có hai con chung tên Trần Đức H, sinh ngày 22/11/2001 và Trần Phương Trúc Q, sinh ngày 03/10/2003. Hiện cháu H và cháu Q đang sống với bà T, khi ly hôn bà T yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu H và cháu Q, không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, từ khi ly thân đến nay, cháu H và cháu Q sống chung với bà T và phát triển bình thường. Mặt khác, cháu H và cháu Q đều có nguyện vọng sống chung với Bà T. Để ổn định cuộc sống cho cháu H và cháu Q, nghĩ nên để bà T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu H và cháu Q, ông V không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập đến. Về nợ chung: Không có, nên không đề cập giải quyết.

Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, xem xét quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1]. Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị Bé T khởi kiện ông Trần Quang V, ông V cư trú ấp T, xã M, huyện C, tỉnh An Giang, Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, phù hợp theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Ông Trần Quang V đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. [2]. Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông V là hợp pháp. Quá trình chung sống do ông, bà bất đồng quan điểm sống nên dẫn đến va chạm, mâu thuẫn, mất lòng tin với nhau. Ông V có hành vi bạo lực gia đình làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung giữa bà T và ông V không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Bà T và ông V ly thân từ năm 2014 đến nay không còn liên lạc, vợ chồng không quan tâm lẫn nhau, tại phiên tòa, bà T xác định tình cảm không còn. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của bà T là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận. [3]. Về con chung: Vợ chồng có 02 (hai) con chung tên Trần Đức H, sinh ngày 22/11/2001; Trần Phương Trúc Q, sinh ngày 31/10/2003. Hiện cháu H, cháu Q đang sống với bà T. Khi ly hôn, bà T yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng 02 (hai) con chung, không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, việc giao con cho ai nuôi cần phải xem xét về mọi mặt và quyền lợi của con chưa thành niên. Hiện nay cháu H, cháu Q đã sống ổn định với bà T, cháu H, cháu Q cũng có nguyện vọng sống với mẹ. Bà T yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, ông V cũng không có ý kiến phản đối. Tại biên bản xác minh ngày 22 tháng 8 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thì cháu H, cháu Q sống với bà T phát triển tốt về tinh thần và thể chất, nhà bà T gần trường học, trạm y tế, đảm bảo về việc học hành cũng như chăm sóc sức khỏe cho cháu H, cháu Q. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà T là được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu H, cháu Q. [4]. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị Bé T không yêu cầu nên Tòa án không xem xét đóng góp phí tổn nuôi con chung đối với ông V. [5]. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết. Ghi nhận hai bên xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của bà T và ông V thì ông, bà phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác. [7]. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà Nguyễn Thị Bé T phải chịu án phí theo quy định pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, 35, 39, 147, 228, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án Tuyên xử: - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Bé T. - Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Bé T được ly hôn với ông Trần Quang V. - Về con chung: Bà Nguyễn Thị Bé T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 02 (hai) con chung tên Trần Đức H, sinh ngày 22/11/2001; Trần Phương Trúc Q, sinh ngày 31/10/2003. Bà Nguyễn Thị Bé T cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Trần Quang V trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định. - Về tài sản chung: Không yêu cầu, không đề cập giải quyết. - Về nợ chung: Không yêu cầu, không đề cập giải quyết. - Về án phí: Bà Nguyễn Thị Bé T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền số 0019725 ngày 01 tháng 6 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện C.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ