- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Đinh Hoàng L - Nguyễn Minh Ng"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| `TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ---------------- Bản án số: 182/2018/HNGĐ-PT Ngày:31/10/2018 V/v: Xin ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TP HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử Phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền
Các Thẩm phán: Ông Phan Quyết Thắng Và Ông Nguyễn Vũ Đông
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Hà - Cán bộ Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Hạnh - Kiểm sát viên trung cấp
Ngày 31 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án HNGĐ thụ lý số 150/2018/TLST- HNGĐ ngày 06/09/2018 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 264/2018/QĐXXPT- HNGĐ ngày 17/10/2018 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Anh Đinh Hoàng L, sinh năm 1980 ( Xin vắng mặt )
Địa chỉ: Số 35, phố Lò Sũ, phường Lý Thái Tổ, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.
* Bị đơn: Chị Nguyễn Minh Ng, sinh năm 1981 ( Có mặt )
Địa chỉ: Phòng 214 nhà 8A tập thể Ngân hàng, phường Chương Dương, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 01/12/2017, bản tự khai và những lời khai tiếp theo tại Toà án, nguyên đơn anh Đinh Hoàng L trình bày:
Về tình cảm: Anh và chị Nguyễn Minh Ng tìm hiểu tự nguyện, có đăng ký kết hôn năm 2010 tại UBND phường Lý Thái Tổ, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Sau khi kết hôn anh chị chung sống với nhau tại số 35 phố Lò Sũ, phường Lý Thái Tổ, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Đây là nhà của mẹ anh L cho ở nhờ. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến đầu năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn,
1 nguyên nhân là do chị Ng có tính cách không bình thường, không biết cách cư xử,
e
g
a không tôn trọng chồng và gia đình chồng. Chị Ng thường xuyên chửi bới anh L và gia
P đình anh, đem con ra để dọa dẫm, không cho anh L và mẹ anh L gặp con, nhiều lần nhắn tin xúc phạm danh dự của anh và mẹ anh. Anh chị đã ly thân với nhau, từ tháng 12/2017 chị Ng đã về nhà bố mẹ đẻ tại P214, nhà 8A Tập thể Ngân hàng, phường Chương Dương, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội để ở.
Anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể hàn gắn được, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Ng để ổn định cuộc sống.
- Về con chung: Anh L trình bày vợ chồng có một con chung là cháu Đinh Bảo Kh – sinh 08/7/2016. Sau khi ly hôn Anh L đồng ý để chị Ng sẽ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Kh cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Về cấp dưỡng, anh sẽ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con là 3.000.000 đồng (ba triệu đồng)/tháng.
- Về tài sản chung, riêng: Anh chị tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về công nợ: Anh chị không có khoản nợ chung nào , không ai nợ anh ch ị nên chị không yêu cầu hay khiếu kiê ̣n gi.
̀
Bị đơn - Chị Nguyễn Minh Ng trình bày: Chị xác định về thời gian và điều kiện kết hôn như anh L trình bày là đúng. Chị mong muốn anh L rút đơn để vợ chồng quay về đoàn tụ. Việc anh L trình bày về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng chỉ là sự hiểu lầm giữa mẹ chồng nàng dâu dẫn đến vợ chồng có nhiều tranh cãi, không có tiếng nói chung. Mẹ chồng nàng dâu có căng thẳng là do chưa thực sự hiểu và thông cảm cho nhau, chị cũng nhận thấy một phần lỗi của bản thân. Sau khi kết hôn anh chị về sống chung tại số 35 Lò Sũ, phường Lý Thái Tổ, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, đây là nhà của mẹ anh L. Đến tháng 12/2017 sửa nhà nên chị và con đã chuyển về nhà bố mẹ chị ở tại P214, nhà 8A Tập thể Ngân hàng, phường Chương Dương, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Chị vẫn còn tình cảm với anh L, mong muốn con có cả bố lẫn mẹ cùng chăm sóc.
Chị không đồng ý ly hôn với anh L nên mong muốn Tòa án hòa giải để vợ chồng đoàn tụ.
- Về con chung: chị Ng trình bày vợ chồng có một con chung là cháu Đinh Bảo Kh – sinh 08/7/2016. Sau khi ly hôn, anh chị đã thỏa thuận để chị Ng sẽ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Kh cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Về cấp dưỡng chị Ng không đồng ý với mức cấp dưỡng 3.000.000đ/tháng mà anh L đưa ra, chị cho như vậy là thấp. Chị Ng có thể tự nuôi con nên không yêu cầu anh L phải đóng góp tiền cấp dưỡng.
2
e
g
a
P
- Về tài sản chung, riêng: Anh chị tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về công nợ: Anh chị không có khoản nợ chung nào , không ai nợ anh ch ị nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết khi ly hôn.
Tại bản án số 19a/2018/HNGĐ-ST ngày 09 tháng 7 năm 2018 của Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm đã xét xử và quyết định:
Căn cứ:
- Các điều 19; điều 51; điều 56; khoản 3 điều 81; điều 82; điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
- Các khoản 1 điều 28; điều 35; điều 39; khoản 4 điều 147; điều 271; điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử:1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Đinh Hoàng L đối với chị Nguyễn Minh Ng.
2. Về quan hệ hôn nhân: anh Đinh Hoàng L được ly hôn chị Nguyễn Minh Ng.
3. Về con chung: Anh chị có một con chung là cháu Đinh Bảo Kh, sinh ngày 08/07/2016. Sau khi ly hôn, chị Ng trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Đinh Bảo Kh và tạm hoãn việc đóng góp tiền nuôi con đối với anh L cho đến khi cháu Kh đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác.
Anh Đinh Hoàng L có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được ngăn cản.
4. Về tài sản chung, riêng: Anh chị tự thỏa thuận và không yêu cầu, nên Tòa án không xem xét giải quyết.
5. Về công nợ chung: Anh chị khai không có và không yêu cầu, nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Tại phiên toà phúc thẩm:
Nguyên đơn: Giữ nguyên yêu cầu không tự thoả thuận giải quyết tòan bộ nội dung vụ án và có đơn đề nghị xin vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm
Bị đơn: Chị Nguyễn Minh Ng có nguyện vọng tha thiết được đoàn tụ gia đình để chăm lo nuôi dạy con chung . Chị không yêu cầu anh L đóng góp phí tổn nuôi con hàng tháng và không yêu cầu xem xét về tài sản chung , nhà ở .
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà phát biểu ý kiến: Hội đồng xét xử và các đương sự tuân thủ đúng qui định của bộ luật tố tụng
3
e
g
a
P dân sự . anh L không kháng cáo bản án sơ thẩm và đơn xin xét xử vắng mặt đề nghị Hội đồng xét xử vắng mặt .
Về nội dung : Xét đơn kháng cáo của chị Ng mong muốn đoàn tụ và đề nghị bác đơn ly hôn của anh L ; Xét thấy Chị Ng , anh L đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay không quan tâm bỏ mặc nhau , Chị Ng cho rằng mâu thuẫn mẹ chồng tuy nhiên phía anh L cương quyết xin ly hôn , phía chị Ng không có biện pháp khắc phục được mâu thuẫn nên cấp sơ thẩm cho ly hôn là có căn cứ : Không có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị Ng : Đề nghị hội đồng xét xử căn cứ điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự ; Xử : Giữ nguyên bản án sơ thẩm .
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của chị Ng trong hạn luật định Tòa án nhân
dân quận Hoàn Kiếm thụ lý giải quyết vụ án theo Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ
luật tố tụng dân sự 2015 là chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Phía anh L có quyết định số 1644/QĐ-BTTT ngày 15/10/2018 cử anh L đi
công tác tại Nhật bản từ 15/10- 3/11/18 .Anh L có đơn xin xét xử vắng mặt nên
căn cứ Điều 296 khoản 2 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Tòa án xét xử vắng mặt
anh L . Xét yêu cầu kháng cáo của chị Ng xin đoàn tụ : Xét thấy: anh Đinh Hoàng L và chị Nguyễn Minh Ng kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường Lý Thái Tổ, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội (Giấy chứng nhận kết hôn số 65 ngày 14/12/2010). Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Căn cứ lời trình bày của các đương sự và qua xác minh, xét thấy quá trình chung sống vợ chồng anh L, chị Ng hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, tính cách không phù hợp, mâu thuẫn mẹ chồng nàng dâu trầm trọng. Anh chị không có sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, không chia sẻ với nhau về công việc gia đình. Căn cứ tài liệu có trong hồ sơ thể hiện mâu thuẫn vợ chồng sâu sắc .
Xét quan hệ hôn nhân giữa anh L chị Ng thực tế đã không còn tồn tại, vợ chồng đã ly thân không còn tình cảm, nghĩa vụ gì với nhau nữa, mục đích hôn nhân không đạt được. Mặc dù đã được gia đình và Tòa án hòa giải nhiều lần nhưng anh L chị Ng không đoàn tụ được gia đình. Phía chị Ng tha thiết đoàn tụ tuy nhiên anh L cương quyết xin ly hôn, thực tế hai bên đã sống ly thân không quan tâm đến nhau kể cả vật
4
e chất và tinh thần , mặc dù anh chị có con nhỏ là cầu nối tình cảm nhưng không có kết
g
a
P quả Vì vậy, Không có cở sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị Ng . Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của anh L là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Hội đồng xét xử : Giữ nguyên bản án sơ thẩm .
- Về con chung: Anh chị có một con chung là cháu Đinh Bảo Kh – sinh 08/7/2016. Sau khi ly hôn, anh chị thỏa thuận để chị Ng trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Kh cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.
Về cấp dưỡng, anh L có nguyện vọng đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con là 3.000.000 đồng (ba triệu đồng)/tháng. Chị Ng không đồng ý và không yêu cầu anh L phải đóng góp nuôi con. Hội đồng xét xử thấy ý kiến của anh chị là tự nguyện thể hiện trách nhiệm nuôi con . đảm bảo quyền lợi của cháu Đinh Bảo Kh nên để chị Ng trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cháu Kh. Do chị Ng không yêu cầu anh L phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con nên tạm hoãn việc đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con đối với anh L đến khi nào chị Ng có yêu cầu .
Anh L có quyền đi lại chăm sóc con chung không ai có quyền cản trở .
- Về tài sản chung, riêng: Anh chị tự thỏa thuận và không yêu cầu, nên Tòa án không xem xét giải quyết.
- Về công nợ chung: Anh chị khai không có và không yêu cầu, nên Tòa án không xem xét giải quyết.
- Đối với yêu cầu của chị Ng về quyền lưu cư, Hội đồng xét xử thấy: ngôi nhà số 35 Lò Sũ thuộc quyền quản lý của mẹ anh L là bà Quản Thị Hằng. Thực tế chị Ng đã không ở đây từ tháng 12/2017 mà đang ở ổn định tại nhà bố mẹ đẻ. Nên không có căn cứ xem xét yêu cầu này của chị Ng.
- Về án phí: anh L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và Chị Ng phải chịu án phí phúc thẩm theo luật định.
* Vì các lẽ trên
:Căn cứ điều 308 khoản 1 , Điều 146, 147 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ ; điều 51; điều 56; khoản 3 điều 81; điều 82; điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị Nguyễn Minh Ng
5
e
g
a
P
Giữ nguyên bản án ly hôn sơ thẩm số số 19a/2018/HNGĐ-ST ngày 09 tháng 7 năm 2018 của Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm-
Xử: 1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Đinh Hoàng L đối với chị Nguyễn Minh Ng.
: anh Đinh Hoàng L được ly hôn chị Nguyễn Minh Ng.
3. Về con chung: Anh chị có một con chung là cháu Đinh Bảo Kh, sinh ngày 08/07/2016. Sau khi ly hôn, chị Ng trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Đinh Bảo Kh và tạm hoãn việc đóng góp tiền nuôi con đối với anh L đến khi có sự thay đổi khác hoặccho đến khi cháu Kh đủ 18 tuổi . Anh L có quyền đi lại chăm sóc con chung không ai có quyền cản trở
4. Về tài sản chung, riêng: Anh chị tự thỏa thuận và không yêu cầu, nên Tòa án không xem xét giải quyết.
5. Về công nợ chung: Anh chị khai không có và không yêu cầu, nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Về án phí :Về án phí sơ thẩm: anh Đinh Hoàng L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số AB/2014/02449 ngày 13/12/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm.( Đã nộp đủ )
Chị Ng phải chịu 300,000đ án phí phúc thẩm được trừ vào 300,000 đ tạm ứng đã nội tại biên lai số 002546 ngày 21/08/2018 Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm.( Đã nộp đủ )
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật để thi hành kể từ ngày 31/10/2018
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
6
e
g
a
P
| Nơi nhận: - TAND Quận Hoàn Kiếm; - VKS TP Hà Nội - Chi cục THADS quận Hoàn Kiếm - Các đương sự- Lưu hồ sơ vụ án; VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm Phán – Chủ tọa phiên tòa Thẩm Phán – Chủ tọa phiên tòa NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN Trần Tự Hiếu 7 e g a P |