- Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN THANH H - gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PH H CH MINH Bản án số: 181/2026/HS-ST Ngày: 08/4/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - TH NH PH H CH MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Xuân Lan.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Văn Dương
2. Bà Mai Thị Tám
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tâm – Thư ký T a án nhân dân khu vực 8 - Thành phố H Ch Minh.
- Đ i di n Vi n ki m sát nhân dân khu c - Thành ph Hồ Ch Minh: Bà Phạm Thị Thanh Bình – Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 4 năm 2026, tại T a án nhân dân khu vực 8 - Thành phố H Ch Minh (số G, tỉnh lộ 8, xã T, Thành phố H Ch Minh) mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 197/2026/HSST ngày 18 tháng 3 năm 2026, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 191/2026/QĐXXST-HS ngày 20/3/2026 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thanh H, sinh ngày 28/12/1999, tại: Thành phố H Ch Minh; Giới t nh: Nam; Thẻ CCCD số 079099000439; Nơi đăng ký thường trú: Số A, ấp T, xã T, huyện H, Thành phố H Ch Minh (Nay là số A, ấp E, xã Đ, Thành phố H Ch Minh); Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Trần T và bà Nguyễn Thị L; Hoàn cảnh gia đình: Anh chị em ruột có 05 người kể cả bị cáo, bị cáo chưa có vợ.
Tiền án: Không;
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị b t truy nã t ngày 01/9/2025 đến nay. Bị cáo có m t tại phiên t a.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trương Đình P có mâu thuẫn với đối tượng tên Kim B (không rõ lai lịch) nên hai bên hẹn đánh nhau tại trước cổng trường THCS T6, xã T, huyện H. Trương Đình P rủ Đ ng Minh T1, Nguyễn Quang T2 (B), Nguyễn Thanh H, Nguyễn Văn T3 (Đen), Lại Quốc H1, Bùi Ngọc D, Huỳnh Phát Đ, Nguyễn Văn V và Bin N, Q, T4 (chưa rõ lai lịch) để đi đánh nhau với Kim B, tất cả đ ng ý. P có nói với cả nhóm ai có hung kh thì mang theo và hẹn g p nhau tại trước trường THCS T6, xã T, huyện H. Nguyễn Thanh H rủ Q1 (chưa rõ lai lịch); T2 rủ thêm Nguyễn Hoài L1, Trương Hoàng V1 và L2 (chưa rõ lai lịch) đi giúp P đánh nhau. Hoàng V1 rủ Lý Thành Đ1, Nguyễn Thái H2, Q2 (chưa rõ lai lịch). L1 rủ thêm Nguyễn Tài Anh T5 (T) cùng tham gia.
Đến khoảng 20 giờ 00 phút ngày 07/11/2021, Trương Đình P g p T1, H1, D, T3, H, Q, Văn V, Phát Đ và tên Q1 tại khu vực đ ng mã thuộc ấp T, xã T, huyện H. Lúc này, Văn V nói “nhóm t người nên chơi thêm bom xăng cho ch c” nên Văn V đi nh t vỏ chai bia bằng thủy tinh, mua xăng về và cả nhóm tự chế được 05 chai bom xăng. Sau đó, H1 điều khiển xe máy hiệu Dream màu đỏ biển số 53Y1-4864 chở P, Văn V ng i ph a sau, P cầm theo 01 cây kiếm nhật bằng kim loại dài khoảng 80cm, Văn V cầm theo 01 chai bom xăng; T1 điều khiển xe máy hiệu Dream màu nâu (không rõ biển số) chở D và Q, trong đó Dương cầm theo 01 cây mã tấu bằng kim loại dài khoảng 80cm, Q cầm 02 chai bom xăng; Q1 điều khiển xe máy hiệu Luvias màu xanh tr ng (không rõ biển số) chở Nguyễn Thanh H cầm theo 01 chai bom xăng; Phát Đ điều khiển xe máy hiệu Exciter màu tr ng xanh (không rõ biển số) chở Bin N ng i sau mang theo 01 chai bom xăng; T4 điều khiển xe g n máy hiệu Vario màu xám (không rõ biển số) chở T3 cầm một cây kiếm tự chế. Cả nhóm lưu thông thành đoàn đi đến trước cổng trường THCS T6, ấp T, xã T, H đợi nhóm Kim B.
Khoảng 21 giờ cùng ngày, nhóm của T2 g m Thành Đ1 điều khiển xe máy hiệu Vario biển số 50Y1-511.86 chở H2; Hoàng V1 điều khiển xe máy hiệu Vario (không rõ biển số) chở Q2; T2 điều khiển xe hiệu Vario màu tr ng đỏ đen biển số 50Y1-666.96 chở L1; L2 điều khiển xe hiệu Winner (không rõ biển số) chở T5 r i cả nhóm đi đến g p nhóm P. Tại trước cổng trường THCS T6, hai nhóm nhập lại chờ nhưng không thấy nhóm Kim B đến nên chạy thành đoàn, cầm theo hung kh đi tìm nhóm Kim B. Riêng L2 chở T5 về không tham gia do thấy nhiều người mang theo hung kh .
Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, khi đến gần ngã ba đường B và đường N, đoạn trước cửa tiệm C, số D N, ấp T, xã T thì nhóm của P g p lực lượng trinh sát thuộc Đ2 Công an huyện H đang tuần tra do anh Nguyễn Tấn M làm tổ trưởng đang điều khiển xe máy chạy ngược chiều lại. Nhóm của P tưởng nhầm là nhóm của Kim B đi đến nên la lên “Tụi nó kìa”. Cả nhóm quay đầu xe r i d ng lại thủ thế sẵn. D, Q, P, T3, Văn V, H, Bin N bước xuống xe cầm bom xăng, dao tự chế đứng dàn hàng ngang ra giữa đường và đưa dao chỉ về ph a lực lượng Công an, c n L1, H2, Phát Đ và một số đối tượng khác d ng xe ph a sau dùng số đông uy hiếp tinh thần đối phương. Văn V, Q, H và Bin N lấy bật lửa đốt vào miếng vải ở đầu chai bom xăng cho cháy r i ném vào tổ tuần tra gây ra nhiều đám cháy trên l ng đường. Lúc này lực lượng trinh sát hình sự nổ súng chỉ thiên và hô to “Cảnh sát hình sự đây” nên cả nhóm liền lên xe máy bỏ chạy thoát. Khi về gần tới chợ T7 thì cả nhóm d ng xe và gom hung kh g m mã tấu, kiếm tự chế đưa cho H mang đi cất giấu.
Đối với Lại Quốc H1, Nguyễn Văn T3, Đ ng Minh T1, Nguyễn Quang T2, Nguyễn Hoài L1, Lý Thành Đ1, Nguyễn Thái H2, Trương Đình P, Bùi Ngọc D và Huỳnh Phát Đ đã bị T a án nhân dân huyện Hóc Môn xét xử về tội “Gây rối trật tự công cộng” (tại Bản án số 221/2022/HS-ST ngày 16/12/2022, số 63/2024/HS-ST ngày 25/3/2024 và số 137/2025/HS-ST ngày 05/6/2025).
Riêng Nguyễn Thanh H bỏ trốn nên đã Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy nã. Đến ngày 01/9/2025, H bị b t giữ. Tại Cơ quan điều tra, H đã th a nhận hành vi của mình như nội dung trên.
Tại bản cáo trạng số 176/CT-VKSKV8 ngày 21/01/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Thành phố H Ch Minh đã truy tố ra trước T a án nhân dân khu vực 8 – Thành phố H Ch Minh để xét xử Nguyễn Thanh H về tội “Gây rối trật tự công công” theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự (đã sửa đổi bổ sung năm 2015).
Tại phiên t a, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Lời khai nhận tội của bị cáo H phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các chứng cứ có tại h sơ. Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 07/11/2021, tại khu vực xã T, huyện H (nay là xã Đ), Thành phố H Ch Minh, Nguyễn Thanh H cùng các đ ng phạm có hành vi dùng hung kh , bom xăng, gây rối trật tự công cộng, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây hoang mang, lo sợ cho nhân dân trong khu vực. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, cần phải được xử lý nghiêm để có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và răn đe ph ng ng a chung. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra và tại phiên t a, bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo không biết chữ, không được đi học nên trình độ nhận thức thấp; do đó đề nghị Hội đ ng xét xử áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đ ng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự (đã sửa đổi, bổ sung năm 2015); Tuyên bị cáo Nguyễn Thanh H phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”; Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H t 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù đến 03 (ba) năm tù.
Vật chứng vụ án đã được xử lý tại Bản án số 221/2022/HS-ST ngày 16/12/2022 và số 63/2024/HS-ST ngày 25/3/2024 của T a án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố H Ch Minh.
Đối với đối tượng tên Q1, quá trình điều tra chưa làm việc được do chưa rõ nhân thân, lai lịch, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ xử lý sau.
Tại phiên t a, bị cáo Nguyễn Thanh H đã th a nhận: Bị cáo là người trực tiếp mang 03 con dao tự chế (của bị cáo để ở nhà) đưa cho P để cả nhóm cùng đi tìm nhóm của Kim B. Tên Q1 là người điều khiển xe máy hiệu Luvias màu xanh tr ng (không rõ biển số) chở bị cáo cầm theo 01 chai bom xăng. Khi g p tổ tuần tra, do cả nhóm nhầm là nhóm Kim B, bị cáo có ném bom xăng vào tổ tuần tra nhưng không gây thương t ch cho ai và gây cháy nhỏ ven đường. Sau đó, cả nhóm gom hung kh g m mã tấu, kiếm tự chế đưa cho bị cáo, bị cáo mang đi cất giấu trên đường chạy trốn và hiện bị cáo không xác định được đã cất giấu khu vực nào. Tại phiên toà bị cáo không tranh luận, không tự bào chữa.
Bị cáo nói lời nói sau cùng là xin Hội đ ng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI Đ NG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong h sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên t a, Hội đ ng xét xử nhận thấy như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Thành phố H Ch Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên t a, bị cáo không có ý kiến ho c khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng.
Tại phiên t a bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản b t người phạm tội quả tang và các chứng cứ có tại h sơ.
Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 07/11/2021, tại khu vực xã T, huyện H (nay là xã Đ), Thành phố H Ch Minh bị cáo Nguyễn Thanh H cùng các đ ng phạm có hành vi dùng hung kh , bom xăng, gây rối trật tự công cộng, đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn xã T, huyện H (nay là xã Đ), Thành phố H Ch Minh; gây hoang mang, lo sợ cho quần chúng nhân dân sinh sống ở khu vực trên và ảnh hưởng xấu đến đời sống, sinh hoạt bình thường của người dân tại địa phương.
Bằng hành vi trên, Hội đ ng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Thanh H đã phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật hình sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2015) như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố là phù hợp.
Đối với các đ ng phạm như: Lại Quốc H1, Nguyễn Văn T3, Đ ng Minh T1, Nguyễn Quang T2, Nguyễn Hoài L1, Lý Thành Đ1, Nguyễn Thái H2, Trương Đình P, Bùi Ngọc D và Huỳnh Phát Đ đã bị T a án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố H Ch Minh xét xử về tội “Gây rối trật tự công cộng” (tại Bản án số 221/2022/HS-ST ngày 16/12/2022, số 63/2024/HS-ST ngày 25/3/2024 và số 137/2025/HS-ST ngày 05/6/2025).
[3] Về t nh chất, mức độ của hành vi phạm tội:
Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm trật tự công cộng, gây mất an ninh trật tự xã hội, vi phạm quy t c sống lành mạnh, nếp sống văn minh ở nơi công cộng; đã làm quần chúng nhân dân trên địa bàn hoang mang, gây dư luận xấu trong nhân dân, đ ng thời dẫn đến tâm lý lo sợ của người dân khu vực khu vực xã T, huyện H (nay là xã Đ), Thành phố H Ch Minh. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự để chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình. Do đó, Hội đ ng xét xử nghĩ cần áp dụng hình phù hợp, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo và giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội. Tuy nhiên, cần xem xét t nh chất, mức độ nguy hiểm trong hành vi và nhân thân của bị cáo để có mức hình phạt tương xứng.
Trong vụ án này bị cáo tham gia với vai tr giúp sức t ch cực cho Trương Đình P, bị cáo là người chuẩn bị hung kh và là người tẩu tán hung kh ngay sau khi bị cáo cùng các đối tượng khác thực hiện xong hành vi phạm tội.
[3] Tình tiết tăng n ng: Bị cáo không có tình tiết tăng n ng.
[4] Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình tố tụng vụ án và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo không biết chữ và không được đến trường học chữ nên trình độ nhận thức thấp; do đó, Hội đ ng xét xử áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
[5] Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, tuy nhiên bị cáo đã bỏ trốn ngay sau khi thực hiện hành vi phạm tội và bị b t truy nã.
[6] Về xử lý vật chứng: Không có
[7] Đối với hành vi của đối tượng tên Q1; bị cáo khai bị cáo là người rủ tên Q1 và tên Q1 là người điều khiển xe máy hiệu Luvias chở bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Tại biên bản hỏi cung ngày 01/9/2025, bị cáo xác định tên Q1 là cậu họ của bị cáo, tên là Hữu H3, sinh năm 1998 ở gần nhà bị cáo xã T (nay là xã Đ), Thành phố H Ch Minh, có dáng người cao 1m70, dáng người khoảng 70kg, nước da ngâm, tóc c t ng n, có hình xâm ở tay trái (xâm hết tay trái). Tại biên bản xác minh ngày 05/9/2025 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Thành phố H xác định: Qua rà soát trên địa bàn xã T (nay là xã Đ), Thành phố H Ch Minh không có đối tượng nào có thông tin, mô tả như trên. Do đó, Hội đ ng xét xử kiến nghị Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Thành phố H tiếp tục thông báo truy tìm, điều tra và làm rõ hành vi của đối tượng tên Q1. [8] Xét cần buộc bị cáo phải chịu án ph hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 38 và điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự (đã sửa đổi, bổ sung năm 2015);
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh H phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn tù t nh t ngày 01/9/2025.
2. Về án ph hình sự sơ thẩm
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật ph và Lệ ph số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Buộc bị cáo Nguyễn Thanh H phải nộp 200.000 đ ng (hai trăm nghìn đ ng) tiền án ph hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo
Căn cứ vào các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:
TM. HỘI Đ NG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND Tp. H Ch Minh;
THẨM PHÁN – CHỦ T A PHI N TÒA
- VKSND khu vực 8 - Tp .;
- Sở Tư pháp Tp. H Ch Minh;
- Công an T;
- Phân trại tạm giam H – Trại tạm giam số 2 - Công an T;
- Thi hành án dân sự T8;
- Bị cáo;
- Lưu: Vp, h sơ. (24b).
Hà Thị Xuân Lan
| Nơi nhận: - TAND Tp. H Ch Minh; - VKSND huyện Củ Chi; - Công an huyện Củ Chi; - Chi cục THADS huyện Củ Chi; - Ph ng PC 27; - Bị cáo; - Lưu: Vp, h sơ. (20b) Hà Thị Xuân Lan | TM. HỘI Đ NG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ T A PHI N TÒA |