- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lưu Angel- Tô Thanh Tú"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Luu Angel.
- Căn cứ chính? Điều 122 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 181/2025/HNGĐ-ST Ngày: 22/5/2025 V/v Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Nguyễn Thị Thanh Mai
2/ Ông Huỳnh Phẩm Dũng Phát
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Võ Thị Thoa – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 22 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 154/2025/TLST-HNGĐ ngày 03/4/2025 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2689/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Luu Angel, sinh năm 1990
Địa chỉ: 5231 E21 St St., Tucson, AZ 85711, Hoa Kỳ
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn (để nhận giấy tờ liên quan đến vụ án, bản án, quyết định của Tòa án): Ông Vy Thành C, sinh năm 1993. Địa chỉ: Khu G, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh L (theo giấy ủy quyền được Đại sứ quán Việt Nam tại Hoa Kỳ chứng nhận hợp pháp hóa lãnh sự số 124-01/2025-HPH ngày 21/01/2025).
Bị đơn: Ông Tô Thanh T, sinh năm 1989
Địa chỉ: 107/13 Bãi Sậy, Phường M, Quận P, Thành phố H
(Các đương sự vắng mặt, có đơn yêu cầu vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại bản tự khai ngày 31/10/2024 được Đại sứ quán Việt Nam tại Hoa Kỳ chứng nhận hợp pháp hóa lãnh sự số 124-01/2025-HPH ngày 21/01/2025, nguyên đơn bà Luu Angel trình bày:
Bà và ông Tô Thanh T kết hôn năm 2018, theo giấy chứng nhận kết hôn số 114 do Ủy ban nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 20/7/2018.
Sau khi kết hôn, hai bên chung sống với nhau tại Việt Nam, vì lý do công việc nên bà thường xuyên đi về giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Thời gian đầu hai bên chung sống bình thường, nhưng sau đó thì thường xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, cả hai không có thời gian để cùng ngồi lại phân tích và tìm hiểu về vấn đề của hai vợ chồng nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Đầu năm 2023 bà có về Việt Nam và nói chuyện với ông T về việc hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng bà và ông T cùng nhau xác nhận tình cảm hai bên đã không còn và không thể hàn gắn nên cả hai thống nhất ly hôn. Mặt khác, do thời gian chung sống với nhau không nhiều nên cả hai bên không còn quan tâm chăm sóc nhau, nay bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Tô Thanh T để ổn định cuộc sống. Về con chung: Không có Về tài sản chung và nợ chung: Không có Theo bị đơn ông Tô Thanh T trìn bày: Ông và bà Luu Angel kết hôn năm 2018, theo giấy chứng nhận kết hôn số 114 do Ủy ban nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 20/7/2018. Về quá trình chung sống và mâu thuẫn vợ chồng ông thống nhất như trình bày của bà Luu Angel. Ông được biết bà Luu Angel đang yêu cầu ly hôn với ông tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Đối với yêu cầu của bà Luu Angel ông có ý kiến như sau: Về quan hệ hôn nhân: Ông đồng ý ly hôn với bà Luu Angel. Về con chung: Không có. Về tài sản chung và nợ chung: Không có. Tại phiên tòa sơ thẩm: Nguyên đơn bà Luu Angel, bị đơn ông Tô Thanh T đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn bà Luu Angel đang cư trú tại Hoa Kỳ có đơn xin ly hôn với bị đơn ông Tô Thanh T đang cư trú tại Thành phố Hồ Chí Minh, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37; Điều 38; Điều 40; Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. [2] Về tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ các bên tham gia phiên tòa, nguyên đơn bà Luu Angel, bị đơn ông Tô Thanh T đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật. Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ nên vụ án không thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. [3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Bà Luu Angel và ông Tô Thanh T có đăng ký kết hôn vào năm kết hôn năm 2018, theo giấy chứng nhận kết hôn số 114 do Ủy ban nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 20/7/2018 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Theo bà Luu Angel và ông Tô Thanh T trình bày:
Sau khi kết hôn, hai bên chung sống với nhau tại Việt Nam, vì lý do công việc nên bà Luu Angel thường xuyên đi về giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Thời gian đầu hai bên chung sống bình thường, nhưng sau đó thì thường xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, cả hai không có thời gian để cùng ngồi lại phân tích và tìm hiểu về vấn đề của hai vợ chồng nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Đầu năm 2023 bà Luu Angel có về Việt Nam và nói chuyện với ông T về việc hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng cả hai xác nhận tình cảm không còn và không thể hàn gắn nên thống nhất ly hôn, bà Luu Angel nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, không còn khả năng hàn gắn nên có đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Tô Thanh T để ổn định cuộc sống. Về phía ông Tô Thanh T có bản tự khai đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà Luu Angel.
Xét thấy, vợ chồng có quyền, nghĩa vụ yêu thương, tôn trọng và cùng có trách nhiệm quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, xây dựng gia đình hạnh phúc, đây cũng là mục đích của hôn nhân. Do điều kiện khách quan nên thực tế vợ chồng bà Luu Angel, ông Tô Thanh T đã không còn chung sống với nhau, tình cảm phai nhạt, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Luu Angel xin ly hôn và ông Tô Thanh T đồng ý thuận tình ly hôn là có cơ sở, phù hợp quy định của pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà Luu Angel và ông Tô Thanh T đều xác định không có nên không xét.
Về án phí:
Án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bà Luu Angel và ông Tô Thanh T được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 21; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; Điều 38; Điều 40; Điều 147; Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 273; Điều 469; khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 1 Điều 56 ; Điều 57; Điều 122; Điều 123; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016.UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ luật Thi hành án dân sự 2008 đã sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Luu Angel.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Luu Angel và ông Tô Thanh T thuận tình ly hôn.
- Về con chung: Không có
- Về tài sản chung: Không có
- Về nợ chung: Không có. 2. Về án phí và thi hành án: Thi hành án dưới sự giám sát của Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền. Án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn: 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng bà Luu Angel phải chịu nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm bà Luu Angel đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0070292 ngày 31/3/2025 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Luu Angel đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm. 3. Bà Luu Angel được quyền kháng cáo trong thời hạn 01 (một) tháng, ông Tô Thanh T được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND Tối cao; - TAND Cấp cao tại TP.HCM; - VKSND tối cao; - VKSND TP.HCM; - VKSND Cấp cao tại TP.HCM; - Cục Thi hành án dân sự TP.HCM; - UBND nơi đăng ký kết hôn; - Đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thu Phương |