vanban.org

Bản án 181/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phan Thị T đối với ông Nguyễn Anh T.

Quan hệ hôn nhân giữa bà Phan Thị T và ông Nguyễn Anh T chấm dứt. Giấy chứng nhận kết hôn số 38 do Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện B, tỉnh B cấp ngày 15/5/2009 không còn giá trị pháp lý. Về con chung: Giao 03 trẻ Nguyễn Ngọc Linh C (giới tính: Nữ), sinh ngày: 08/3/2022, trẻ Nguyễn Tuấn K(Nam), sinh ngày… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phan Thị T đối với ông Nguyễn Anh T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 181/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 06/8/2025
V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Nguyên.

2. Bà Phan Thị Dòn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Phước – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Ngô Hoàng Phương Đại – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 8 năm 2025, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 277/2025/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 554/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2025/QĐST-HNGĐ ngày 07/7/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phan Thị T, sinh ngày 23/11/1989; Số CCCD: *** tại Cục Quản lý Hành chính về TTXH (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: F4/33 Tổ *, Ấp *, xã V, huyện B, Thành phố H (nay là F4/33 Tổ *, Ấp *, xã V, Thành phố H);

- Bị đơn: Ông Nguyễn Anh T, sinh ngày 01/01/1987; Số CCCD: *** tại Cục Quản lý Hành chính về TTXH (Vắng mặt không có lý do).

Địa chỉ: Nhà không số (Tổ *, Ấp * cũ), Ấp *, xã V, huyện B, Thành phố H (nay là Nhà không số (Tổ *, Ấp * cũ), Ấp *, xã V, Thành phố H).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong Đơn khởi kiện về việc ly hôn đề ngày 13/02/2025, bản tự khai ngày 21/4/2025, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 09/6/2025, biên bản về việc không tiến hành hòa giải được ngày 09/6/2025, nguyên đơn bà Phan Thị T trình bày:

Bà Phan Thị T và ông Nguyễn Anh T bắt đầu chung sống với nhau vào năm 2009, có tổ chức đám cưới, do hai bên tự tìm hiểu có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện B, tỉnh B. Thời gian đầu hai vợ chồng chung sống bình thường không xảy ra mâu thuẫn chỉ cãi vã nhỏ nhưng về sau thì bắt đầu phát sinh thêm nhiều nguyên nhân hơn. Đến năm 2016 bà T bắt đầu đi làm thì ông T không đi làm và ở nhà chăm con. Sau khi có đứa con thứ 2 thì mâu thuẫn vợ chồng càng nhiều phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông Nguyễn Anh T không chịu làm ăn, hay ghen tuông, bạo lực, đánh đập nhục mạ bà Phan Thị T. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 10/2022 đến nay. Xét thấy tình cảm không còn hàn gắn được bà Phan Thị T yêu cầu Tòa án cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Anh T.

Về con chung: Quá trình chung sống, bà Phan Thị T và ông Nguyễn Anh T có 03 con chung tên là trẻ Nguyễn Ngọc Linh C (giới tính: Nữ), sinh ngày: 08/3/2022, trẻ Nguyễn Tuấn K (Nam), sinh ngày 02/10/2013 và Nguyễn Ngọc Yến L (nữ), sinh ngày 07/10/2009. Khi ly hôn, bà Phan Thị T yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 3 con chung là trẻ Nguyễn Ngọc Linh C, sinh ngày 08/3/2022, trẻ Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 02/10/2013 và Nguyễn Ngọc Yến L, sinh ngày 07/10/2009. Bà Phan Thị T không yêu cầu ông Nguyễn Anh T cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Phan Thị T xác nhận quá trình chung sống vợ chồng bà không có tài sản chung, cũng không có nợ ai và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Anh T vắng mặt trong toàn bộ quá trình Tòa án giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay mà không có bất kỳ văn bản nào thể hiện ý kiến hay yêu cầu của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa đã phát biểu ý kiến như sau:

- Về tố tụng: Trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Phan Thị T đối với ông Nguyễn Anh T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Bà Phan Thị T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Anh T. Căn cứ vào Kết quả trả lời xác minh của Công an xã V, huyện B, Thành phố H= tại Công văn 1161/TAHBC ngày 09/4/2025 có nội dung sau: “Đ/s Nguyễn Anh T; SN: 1987 có hộ khẩu thường trú và hiện thực tế cư trú tại Đường không số (tổ * ấp * cũ), ấp * Xã V, Huyện B, Thành phố H” nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự:

- Ông Nguyễn Anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn Anh T.

- Bà Phan Thị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Phan Thị T.

[3] Về các yêu cầu của đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ theo Giấy chứng nhận kết hôn số 38 do Ủy ban nhân dân xã Đ, Huyện B, Tỉnh B cấp ngày 15/5/2009 thì có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Phan Thị T và ông Nguyễn Anh T là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Xét thấy trong quá trình giải quyết vụ án, bà Phan Thị T trình bày: Bà Phan Thị T và ông Nguyễn Anh T bắt đầu chung sống với nhau vào năm 2009, có tổ chức đám cưới, do hai bên tự tìm hiểu có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện B, tỉnh B. Thời gian đầu hai vợ chồng chung sống bình thường không xảy ra mâu thuẫn chỉ cãi vã nhỏ nhưng về sau thì bắt đầu phát sinh thêm nhiều nguyên nhân hơn. Đến năm 2016 bà T bắt đầu đi làm thì ông T không đi làm và ở nhà chăm con. Sau khi có đứa con thứ 2 thì mâu thuẫn vợ chồng càng nhiều phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông Nguyễn Anh T không chịu làm ăn, hay ghen tuông, bạo lực, đánh đập nhục mạ bà Phan Thị T. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 10/2022 đến nay. Xét thấy tình cảm không còn hàn gắn được bà Phan Thị T yêu cầu Tòa án cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Anh T.

Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng mời ông Nguyễn Anh T đến Tòa án để giải quyết vụ án tranh chấp về ly hôn giữa bà Phan Thị T và ông Nguyễn Anh T. Nhưng ông Nguyễn Anh T vẫn không đến Tòa án để giải quyết vụ án, cũng không có bất kỳ văn bản nào thể hiện ý kiến hoặc yêu cầu của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Điều đó cho thấy ông T đã không quan tâm đến tình trạng hôn nhân, không thể hiện thiện chí trong việc hàn gắn tình cảm vợ chồng. Như vậy, ông T đã tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình. Do đó, ông T phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Phan Thị T xác định vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc.

Khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

“1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.”

Căn cứ vào Công văn số 1842/UBND ngày 07/5/2025 của Ủy ban nhân dân xã V, huyện B, thành phố H về việc trả lời xác minh tình trạng hôn nhân của bà Phan Thị T và ông Nguyễn Anh T có nội dung như sau: “Qua rà soát, Tổ hòa giải liên ấp 69-70 chưa có tiếp nhận hồ sơ yêu cầu hòa giải tranh chấp hay mâu thuẫn hôn nhân và gia đình của bà Phan Thị T, sinh năm 1989 và ông Nguyễn Anh T, sinh năm 1987 đề nghị giải quyết. Do đó tổ hòa giải liên ấp 69- 70 chưa có thực hiện hòa giải mâu thuẫn hôn nhân gia đình giữa bà Phan Thị T, sinh năm 1989 và ông Nguyễn Anh T, sinh năm 1987”.

Xét thấy bà Phan Thị T và ông Nguyễn Anh T đã không còn chung sống với nhau và có thời gian sống ly thân, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, vợ chồng đã không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình về tình nghĩa vợ chồng. Mặt khác, trong quá trình hòa giải tại Tòa, ông T cũng không đến Tòa án tham gia tố tụng theo giấy triệu tập để Tòa án hòa giải, động viên hai bên đoàn tụ, hàn gắn tình cảm vợ chồng, điều này chứng tỏ giữa hai người đã không còn tình cảm và không có thiện chí để đoàn tụ. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa bà T và ông T mâu thuẫn là có thật và đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy việc bà Phan Thị T yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Anh T là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân gia đình. Từ các nhận định trên và xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10-Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phan Thị T đối với ông Nguyễn Anh T.

Về con chung: Về con chung: Quá trình chung sống, bà Phan Thị T và ông Nguyễn Anh T có 03 con chung tên là trẻ Nguyễn Ngọc Linh C (giới tính: Nữ), sinh ngày: 08/3/2022, trẻ Nguyễn Tuấn K(Nam), sinh ngày 02/10/2013 và Nguyễn Ngọc Yến L (nữ), sinh ngày 07/10/2009. Khi ly hôn, bà Phan Thị T yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 3 con chung là trẻ Nguyễn Ngọc Linh C, sinh ngày 08/3/2022, trẻ Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 02/10/2013 và Nguyễn Ngọc Yến L, sinh ngày 07/10/2009. Bà Phan Thị T không yêu cầu ông Nguyễn Anh T cấp dưỡng nuôi con chung.

Nguyện vọng được trực tiếp nuôi con của bà T là xuất phát từ tình thương và trách nhiệm đối với con của mình, tuy nhiên việc giao con cho người trực tiếp nuôi dưỡng phải cân nhắc tới việc đảm bảo cuộc sống của con chung về mọi mặt. Xét thấy bà T đang có công việc và thu nhập ổn định, có chỗ ở đảm bảo cho sinh hoạt của con, hiện nay trẻ Linh C còn nhỏ và đang sống chung với mẹ và cần sự chăm sóc của người mẹ nên cần tạo điều kiện để trẻ Linh C và có sự ổn định về mặt tâm lý, tình cảm. Tại biên bản ghi nhận ý kiến của trẻ đề ngày 21/4/2025 và ngày 09/6/2025 thể hiện nguyện vọng của trẻ L và trẻ K là mong muốn được sống chung với mẹ. Xét thấy nguyện vọng của bà Phan Thị T về con chung là phù hợp và cũng thuận lợi nhất cho các trẻ vì bà T đã và đang chăm sóc tốt cho con và đủ điều kiện chăm sóc con chung. Vì vậy để đảm bảo quyền lợi của trẻ về mọi mặt, Hội đồng xét xử quyết định giao 03 con chung là trẻ Nguyễn Ngọc Linh C (giới tính: Nữ), sinh ngày: 08/3/2022, trẻ Nguyễn Tuấn K(Nam), sinh ngày 02/10/2013 và Nguyễn Ngọc Yến L (nữ), sinh ngày 07/10/2009 cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với pháp luật. Bà T không yêu cầu ông Nguyễn Anh T cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy đây là sự tự nguyện của bà T nên Hội đồng xét xử ghi nhận, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với ông Nguyễn Anh T đến khi bà T có yêu cầu.

Tại phiên tòa ông Nguyễn Anh T vắng mặt, không có bất kỳ văn bản nào trình bày nguyện vọng về con chung khi ly hôn.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con mà lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì lợi ích của con chung, trong trường hợp có yêu cầu được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà Phan Thị T xác định quá trình chung sống cùng ông Nguyễn Anh T không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xét đến vấn đề tài sản chung giữa bà Phan Thị T và ông Nguyễn Anh T. Nếu sau này các bên đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.

Về nợ chung: Bà Phan Thị T xác định không có nợ chung. Do đó, Hội đồng xét xử không xét đến vấn đề nợ chung giữa bà Phan Thị T và ông Nguyễn Anh T.

[4] Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án thì bà Phan Thị T phải chịu án phí sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 91, khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ các Điều 8, 9, 19, 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phan Thị T đối với ông Nguyễn Anh T.

Quan hệ hôn nhân giữa bà Phan Thị T và ông Nguyễn Anh T chấm dứt. Giấy chứng nhận kết hôn số 38 do Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện B, tỉnh B cấp ngày 15/5/2009 không còn giá trị pháp lý.

2. Về con chung: Giao 03 trẻ Nguyễn Ngọc Linh C (giới tính: Nữ), sinh ngày: 08/3/2022, trẻ Nguyễn Tuấn K(Nam), sinh ngày 02/10/2013 và Nguyễn Ngọc Yến L (nữ), sinh ngày 07/10/2009 cho bà Thu trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng đối với ông Nguyễn Anh T cho đến khi bà T có yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con mà lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì lợi ích của con chung, trong trường hợp có yêu cầu được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: Bà Phan Thị T xác định không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xét đến vấn đề tài sản chung giữa bà Phan Thị T và ông Nguyễn Anh T. Nếu sau này các bên đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.

4. Về nợ chung: Bà Phan Thị T xác định không có nợ chung. Do đó, Hội đồng xét xử không xét đến vấn đề nợ chung giữa bà Phan Thị T và ông Nguyễn Anh T.

5. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Phan Thị T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số BLTU/24P/0052217 ngày 03/4/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Phan Thị T đã nộp đủ án phí.

6. Về quyền kháng cáo: Bà Phan Thị T và ông Nguyễn Anh T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ