vanban.org

Bản án 181/2024/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 04/05/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 04/05/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

. Căn cứ điểm b khoản Điều 55; Điều 57 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Kông H, sửa Bản án hình sự s thẩm số 4 2024 HSST ngày 24 0 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng. Xử phạt: Nguyễn Kông H 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 08/07/20… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Kông H - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? . Căn cứ điểm b khoản Điều 55; Điều 57 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 55 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 57 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 181/2024/HS-PT
Ngày: 04-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Võ Ngọc Thông

Các Thẩm phán:

ông Nguyễn Tấn Long

ông Phạm Ngọc Thái

- Thư ký phiên tòa: bà Văn Thị Mỹ Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: ông Quách Đức Dũng, Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 157/2024/TLPT-HS ngày 06 tháng năm 2024 đối v i bị cáo Nguyễn Kông H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Do có kháng cáo của bị cáo đối v i Bản án hình sự s thẩm số 4 2024 HSST ngày 24 0 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67 2024 QĐXXPT-HS ngày 08 tháng 4 năm 2024.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Kông H; gi i tính: Nam; tên gọi khác: không; sinh ngày: 25 5 994 tại Đà Nẵng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: lao động phổ thông; trình độ học vấn: 2 2; đăng ký HKTT: tổ B, thôn H, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng; n i ở: thôn C, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng; tiền án, tiền sự: Chưa; cha Nguyễn T (SN: 958); mẹ Trang Thị S (SN: 957); gia đình có 0 anh em, bị cáo là con út; có vợ Trần Thị Thùy T (SN: 994) và 0 con SN 202 . Bị bắt vào ngày 08 7 2022, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an thành phố Đ.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Kông H: ông Nguyễn Trung T2 – là Luật sư thuộc Đoàn luật sư thành phố H. Có mặt.

- Bị hại:

. Bà Đỗ Thị Phư ng L, sinh năm 985; Trú tại: K T, phường H, quận H, TP Đà Nẵng. Có mặt.

2. Ông Phạm Văn T , sinh năm 982; Trú tại: Tổ C K phường H, quận C, TP Đà Nẵng. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ s vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian từ năm 2020 đến năm 202 , do thua lỗ trong hoạt động kinh doanh bất động sản cần có tiền trả nợ, nên Nguyễn Kông H đã đưa ra các thông tin gian dối để chiếm đoạt tiền của người khác. Để thực hiện hành vi chiếm đoạt Nguyễn Kông H 02 lần nhờ Dư ng Hồ Tiến T4 giả làm chủ đất để ký nhận tiền cọc và hợp đồng mua bán chiếm đoạt tiền của nhiều người khác. Cụ thể:

1. Chiếm đoạt tiền của Lưu Văn T5 (SN: 1989, trú: tổ B, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng):

Tháng 5 2020, v i ý định chiếm đoạt tài sản của Lưu Văn T5, Nguyễn Kông H rủ Lưu Văn T5 góp tiền mua đất rừng v i giá .020.000.000đ, để Lưu Văn T5 tin tưởng Nguyễn Kông H nói Lưu Văn T5 góp 70.000.000đ và cho Lưu Văn T5 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Lưu Văn T5 đồng ý. Ngày 2 5 2020, Nguyễn Kông H dẫn Lưu Văn Tân đi xem lô đất rừng ở H (không rõ của ai).

Ngày 26 5 2020, Nguyễn Kông H nhờ Dư ng Hồ Tiến T4 giả làm chủ đất để nhận tiền cọc. Ngày 27.5.202 , tại nhà Dư ng Hồ Tiến T4, Nguyễn Kông H đặt cọc số tiền 200.000.000đ nhưng cho Lưu Văn T5 đứng tên trên giấy cọc, Lưu Văn T5 đồng ý và viết giấy nhận tiền đặt cọc v i nội dung: Dư ng Hồ Tiến T4 có nhận của Lưu Văn T5 số tiền 200.000.000đ để bán 05.000 m2 đất rừng. Dư ng Hồ Tiến T4 có trách nhiệm hoàn tất mọi thủ tục chuyển nhượng cho Lưu Văn T5 chậm nhất vào ngày .6.2020, Lưu Văn T5 có trách nhiệm thanh toán số tiền còn lại: 820.000.000đ chậm nhất đến ngày .6.2020. Trong trường hợp ông Dư ng Hồ Tiến T4 không làm thủ tục giao đất như đã nói trên phải bồi thường ...”. Dư ng Hồ Tiến T4 ký bên bán, Lưu Văn T5 ký bên mua.

Ngày 0 5 2020, Nguyễn Kông H đưa cho Dư ng Hồ Tiến T4 0 giấy biên nhận tiền đặt cọc ghi ngày 0 5 2020 v i nội dung: Dư ng Hồ Tiến T4 có nhận của Lưu Văn T5 số tiền cọc 450.000.000đ để bán 05.000 m2 đất rừng. Dư ng Hồ Tiến T4 có trách nhiệm hoàn tất mọi thủ tục chuyển nhượng cho Lưu Văn T5 chậm nhất vào ngày .6.2020, Lưu Văn T5 có trách nhiệm thanh toán số tiền còn lại: 570.000.000đ chậm nhất đến ngày .6.2020. Trong trường hợp ông Dư ng Hồ Tiến T4 không làm thủ tục giao đất như đã nói trên phải bồi thường ...”, Dư ng Hồ Tiến T4 ký bên bán, Nguyễn Kông H ký nhân chứng, bên mua Nguyễn Kông H ký nhưng ghi tên Lưu Văn T5 rồi Nguyễn Kông H chụp ảnh gửi qua facebook cho Lưu Văn T5.

Ngày 09.6.2020, Lưu Văn T5 và Nguyễn Kông H mang số tiền 570.000.000đ đến đưa cho Dư ng Hồ Tiến T4 tại nhà của Dư ng Hồ Tiến T4 (trong đó: Tân 70.000.000đ, H 200.000.000đ). Sau đó, Lưu Văn T5 viết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (lô đất không có thật) v i nội dung:

+ Bên chuyển nhượng: Dư ng Hồ Tiến T4.

+ Bên nhận chuyển nhượng: Lưu Văn T5.

+ Thửa đất chuyển nhượng: diện tích đất chuyển nhượng: 05.000m2. Loại đất: đất rừng. Hai bên nhất trí thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo các cam kết sau đây:

+ Giá chuyển nhượng: .020.000.000đ.

+ Thời điểm thanh toán: không ghi.

+ Phư ng thức thanh toán: không ghi.

+ Bên chuyển nhượng phải chuyển giao đủ diện tích, đúng hiện trạng và các giấy tờ liên quan đến thửa đất chuyển nhượng cho bên nhận chuyển nhượng khi hợp đồng này có hiệu lực.

+ Mọi tranh chấp về đất đai, mọi giấy tờ pháp lý sau này là bên bán phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trư c pháp luật và bên bán có trách nhiệm bồi thường cho bên mua số tiền tư ng ứng. Lệ phí về giấy tờ đất đai sau này bên bán phải chịu. Khi bên mua nhận rừng phải sạch và được đốt rồi. Dư ng Hồ Tiến T4 ký bên bán, Nguyễn Kông H ký người làm chứng, Lưu Văn T5 ký bên mua.

Sau đó, Nguyễn Kông H, Lưu Văn T5 ra về. Một lúc sau Nguyễn Kông H nhờ Nguyễn Thị Thanh T6 (SN: 1990 – là chị ruột H) đến gặp Dư ng Hồ Tiến T4 để lấy lại tiền. Dư ng Hồ Tiến T4 đưa lại toàn bộ số tiền cho Nguyễn Thị Thanh T6, Nguyễn Thị Thanh T6 mang về đưa cho Nguyễn Kông H, Nguyễn Kông H lấy tiền sử dụng vào mục đích trồng rừng. Vài ngày sau, Nguyễn Kông H cho Dư ng Hồ Tiến T4 số tiền .000.000đ.

Tổng số tiền Nguyễn Kông H và Dư ng Hồ Tiến T4 đã chiếm đoạt của Lưu Văn T5 là 70.000.000đ.

2. Chiếm đoạt tiền của Nguyễn Tấn D (SN: 1994) và Lê Trung P (SN: 1993) cùng trú: thôn T, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng).

Vụ thứ : Vào ngày 04 5 202 , tại quán C v i ý định chiếm đoạt tài sản, Nguyễn Kông H rủ Nguyễn Tấn D góp tiền mua lô đất của ông C ở xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng, đất đã có sẵn 04 lô, mua lại tách thành 05 lô bán kiếm lời (lô đất không có thật), Nguyễn Kông H nói đến ngày 28 7 202 sẽ ra sổ và bán sẽ đưa lại tiền góp vốn, chia tiền lời và bảo Nguyễn Tấn D góp số tiền 0.000.000đ, Nguyễn Tấn D đồng ý. Hôm sau, Nguyễn Tấn D đưa cho Nguyễn Kông H số tiền 0.000.000đ, Nguyễn Kông H viết cho Nguyễn Tấn D 0 tờ giấy mượn tiền v i nội dung: H có mượn của D số tiền 0.000.000đ và hẹn đến ngày 28 7 202 sẽ hoàn trả đủ số tiền đã mượn. Nhưng gần đến ngày ra sổ, Nguyễn Kông H nói v i Nguyễn Tấn D thiếu số tiền 80.000.000đ để đóng thuế bảo Nguyễn Tấn D cố gắng mượn để lấy sổ ra nếu không mất trắng, do không có tiền nên Nguyễn Tấn D nói để liên lạc v i Lê Trung P nhờ Lê Trung P giúp. Ngày 25 5 202 , tại quán C gồm có: Nguyễn Kông H, Lê Trung P, Nguyễn Tấn D và Nguyễn Văn V (SN: 2000; trú: thôn T, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng), Nguyễn Kông H nói v i Lê Trung P đất gần ra sổ nhưng thiếu số tiền 80.000.000đ để đóng thuế nhờ Lê Trung P giúp. Lê Trung P nói không có tiền nhưng để Lê Trung P đi mượn giúp, Lê Trung P đi một lúc thì quay lại đưa cho H số tiền 80.000.000đ, Lê Trung P nói v i Nguyễn Kông H khi bán đất xong có lời thì gửi thêm cho Lê Trung P số tiền 20.000.000đ, Nguyễn Kông H đồng ý. Sau khi nhận tiền, Nguyễn Kông H đã đem đi trả các khoản nợ đã vay mượn trư c đó.

Tổng số tiền Nguyễn Kông H chiếm đoạt là: 290.000.000đ. (Trong đó: D: 0.000.000đ, P: 80.000.000đ).

Vụ thứ 2: Khoảng cuối tháng 4 202 , tại quán cà phê Dư Â, Nguyễn Kông H nói dối bà Nguyễn Thị T7 ở xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng bán lô đất v i giá .200.000.000đ và có chỗ bán ra v i giá .900.000.000đ rủ Nguyễn Tấn D góp tiền mua, Nguyễn Kông H bảo Nguyễn Tấn D góp bao nhiêu thì góp còn lại Nguyễn Kông H lo (trư c đó H có gửi hình ảnh giấy chứng nhận QSDĐ số 025706 có diện tích sử dụng 5544m2 của bà Nguyễn Thị T7 tại xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng qua zalo cho D), Nguyễn Tấn D đồng ý. Nguyễn Tấn D mượn được số tiền 00.000.000đ chuyển cho Nguyễn Kông H nhưng Nguyễn Kông H bảo không có thẻ rút tiền nên bảo chuyển nhiều lần vào tài khoản của Trần Thị Thùy T8 - em vợ H, Nguyễn Kông H nói sau khi bán được sẽ chia lợi nhuận cho Nguyễn Tấn D số tiền 00.000.000đ nên Nguyễn Kông H viết cho Nguyễn Tấn D 0 tờ giấy mượn tiền v i nội dung: H có mượn của D số tiền 200.000.000đ và hẹn đến ngày 28 7 202 sẽ hoàn trả đủ số tiền. Đến ngày 07 5 202 , tại quán C gồm có: Nguyễn Kông H, Lê Trung P, Nguyễn Tấn D và Nguyễn Văn V, Nguyễn Kông H tiếp tục nói lại việc mua đất của bà T7 và đưa hình ảnh lô đất của bà Nguyễn Thị T7 ở xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng cho Lê Trung P xem, hỏi Lê Trung P có tham gia hay không, Lê Trung P đồng ý. Sau đó, tại quán C gồm có: Nguyễn Kông H, Lê Trung P, Nguyễn Tấn D và Nguyễn Văn V, Lê Trung P đưa cho H số tiền 0.000.000đ, Nguyễn Kông H viết cho Lê Trung P 0 tờ giấy mượn tiền v i nội dung: H có mượn P số tiền 0.000.000đ. Vài ngày sau, Nguyễn Kông H tiếp tục nói v i Nguyễn Tấn D thiếu số tiền 60.000.000đ, Nguyễn Kông H bảo Nguyễn Tấn D đi mượn để góp thêm, Nguyễn Tấn D đồng ý. Sau đó, tại quán C gồm có: Nguyễn Kông H, Lê Trung P, Nguyễn Tấn D và Nguyễn Văn V, Nguyễn Tấn D đưa cho Nguyễn Kông H số tiền 60.000.000đ. Sau khi nhận tiền Nguyễn Kông H đã đem đi trả các khoản nợ đã vay mượn trư c đó.

Tổng số tiền Nguyễn Kông H đã chiếm đoạt của Nguyễn Tấn D, Lê Trung P là: 270.000.000đ (Trong đó: D: 60.000.000đ, P 0.000.000đ).

Vụ thứ : Ngày 09 6 202 , Nguyễn Kông H nói dối v i Lê Trung P là có một người ở Huế tìm đất trồng lan công nghiệp. Nguyễn Kông H đã tìm được đất bán v i giá . 50.000.000đ, Nguyễn Kông H sẽ bán ra v i giá 2.400.000.000đ lấy tiền chênh lệch trả cho chủ đất. Nguyễn Kông H nói đã gom được số tiền 00.000.000đ đặt cọc rồi nhưng chủ đất yêu cầu phải cọc số tiền 580.000.000đ, Nguyễn Kông H không đủ tiền sợ mất cọc nên rủ Lê Trung P góp số tiền 250.000.000đ, Lê Trung P đồng ý nhưng sau đó Lê Trung P chỉ mượn được số tiền 0.000.000đ, Lê Trung P nói v i Nguyễn Kông H, Nguyễn Kông H nói để Nguyễn Kông H lo. Sau đó, Nguyễn Kông H sử dụng mạng xã hội facebook liên lạc v i Dư ng Hồ Tiến T4 xin số điện thoại và nhờ Dư ng Hồ Tiến T4 giả làm chủ đất để ký giấy nhận cọc giúp Nguyễn Kông H. Nguyễn Kông H gửi hình ảnh giấy tờ thửa đất số 4, tờ bản đồ hiện trạng số: 25, diện tích: .6 8,4 m2 và Giấy chứng nhận ông Nguyễn S và bà Nguyễn Thị H được quyền sử dụng 8.000m2, số tờ bản đồ: 02, số thửa: 8 , diện tích 18.000 m2 – H có được từ những người môi gi i đất cho Dư ng Hồ Tiến T4, Dư ng Hồ Tiến T4 đồng ý. Hôm sau, Nguyễn Kông H và Lê Trung P đến địa chỉ A Đ, thành phố Đà Nẵng (n i làm việc của T4), đưa cho Dư ng Hồ Tiến T4 số tiền 0.000.000đ, H đưa ra giấy nhận cọc đã viết sẵn (ghi ngày 6 202 ) v i nội dung: Dư ng Hồ Tiến T4 có nhận đặt cọc của Nguyễn Kông H v i số tiền 580.000.000đ để bán thửa đất số: 09590, tờ bản đồ số 92, số sổ 4, diện tích: 3.718.210m2, địa chỉ: A - H - H - Đà Nẵng. Giá bán: . 50.000.000đ. Phư ng thức thanh toán: hẹn đến ngày 0 6 202 , bên mua phải giao toàn bộ số tiền còn lại cho bên bán là: 570.000.000đ và hai bên ký hợp đồng chuyển nhượng tại phòng công chứng…

Bên bán cam kết có toàn quyền chuyển nhượng bất động sản trên, tài sản trên không thuộc đối tượng tranh chấp nào, nếu có tranh chấp bên bán hoàn toàn chịu trách nhiệm trư c pháp luật… Dư ng Hồ Tiến T4 ký bên bán, Nguyễn Kông H ký bên mua và Lê Trung P ký làm chứng rồi Nguyễn Kông H và Lê Trung P đi về, Nguyễn Kông H đưa giấy nhận đặt cọc này cho Lê Trung P giữ. Sau đó, Nguyễn Kông H quay lại gặp Dư ng Hồ Tiến T4 lấy số tiền cọc trư c đó. Khi về nhà phát hiện ngày ký công chứng không đúng Lê Trung P điện thoại hỏi Nguyễn Kông H thì Nguyễn Kông H nói không có vấn đề gì, miễn ngày 20 6 202 giao đủ tiền là được. Sau khi nhận tiền Nguyễn Kông H đã đem đi trả các khoản nợ đã vay mượn trư c đó và có cho Dư ng Hồ Tiến T4 số tiền 4.200.000đ.

Tổng số tiền mà Nguyễn Kông H và Dư ng Hồ Tiến T4 đã chiếm đoạt của Lê Trung P là 0.000.000đ.

Vụ thứ 4: Tháng 6 202 , tại quán C gồm có: Nguyễn Kông H, Lê Trung P, Nguyễn Tấn D và Nguyễn Văn V, Nguyễn Kông H nói dối đã cọc mua hồ s đất ông Nguyễn G ở khu FPT xin thêm lô phụ, nếu 20 ngày không có tiền sẽ mất hồ s và mất cọc trư c đó nên hỏi mượn Nguyễn Tấn D số tiền 60.000.000đ. Nguyễn Tấn D đồng ý và cho Nguyễn Kông H mượn số tiền 60.000.000đ, Nguyễn Kông H nói 0 tháng sau sẽ trả lại.

Đến ngày 22 6 202 , Nguyễn Kông H gửi cho Lê Trung P hình ảnh đ n kiến nghị của ông Nguyễn G về việc giải tỏa đền bù không thỏa đáng xin cấp lại đất – Hình ảnh do những người môi gi i đất cho H, Nguyễn Kông H nói thiếu số tiền 50.000.000đ để chạy giấy tờ xin cấp lại đất nhờ Lê Trung P giúp, Lê Trung P hỏi khi nào xong thì Nguyễn Kông H trả lời chưa biết. P mượn và đưa cho Nguyễn Kông H số tiền 50.000.000đ, Lê Trung P nói khi nào ra sổ bán được đưa cho Lê Trung P thêm số tiền 5.000.000đ, Nguyễn Kông H đồng ý. Sau khi nhận tiền Nguyễn Kông H đã đem đi trả các khoản nợ đã vay mượn trư c đó.

Tổng số tiền mà Nguyễn Kông H chiếm đoạt là 2 0.000.000đ. (Trong đó: D: 60.000.000đ, P: 50.000.000đ).

3. Chiếm đoạt tiền của Phạm Văn T (SN: 1982, trú: tổ C, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng).

Tháng 6 202 , Phạm Văn T có nhu cầu tách sổ nhà đất đang ở thành hai thửa nên có nói cho Trần Văn T9 (SN: 994, trú: Tổ 9, Miếu B, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng) biết, Trần Văn T9 gặp một phụ nữ tên L1 (quen biết trư c đây qua môi gi i bất động sản, không rõ họ tên, địa chỉ) hỏi nhờ làm giúp cho Phạm Văn T , sau đó L1 gi i thiệu tiếp Nguyễn Kông H đến gặp Phạm Văn T để làm hồ s tách thửa. Ngày 25 6 202 , Nguyễn Kông H thuê Đoàn Duy B (SN: 976; trú: Đ, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng) – lái xe G1 chở Nguyễn Kông H cùng L1, Trần Văn T9 đến nhà Phạm Văn T . Mặc dù Nguyễn Kông H không có khả năng làm hồ s tách thửa nhưng vẫn nói dối là có khả năng làm hồ s tách thửa cho Phạm Văn T , chi phí tiền tách thửa là 80.000.000đ. Nguyễn Kông H yêu cầu được ứng trư c số tiền 00.000.000đ và hẹn đến ngày 0 0 202 thì hoàn thành việc tách thửa cho Phạm Văn T , Phạm Văn T đồng ý, Nguyễn Kông H có viết 0 tờ giấy nhận tiền v i nội dung: H có nhận của T3 số tiền 00.000.000đ, 0 sổ hồng thửa đất số 28, tờ bản đồ số 27, 0 giấy đăng ký kết hôn, 04 chứng minh nhân dân, 0 sổ hộ khẩu, trong thời gian từ ngày 25 6 202 đến 0 0 202 H không hoàn tất việc tách được thủ tục tách thửa thì phải hoàn trả 00.000.000đ và các giấy tờ. Sau đó, Phạm Văn T đã chuyển tiền cho Nguyễn Kông H qua tài khoản ngân hàng M số tài khoản 970422920864 67965 mang tên Nguyễn Kông H. Sau khi nhận tiền Nguyễn Kông H đem trả nợ cho T10 (không rõ nhân thân, lai lịch). Ngày 7 0 2022, Nguyễn Kông H liên lạc v i Phạm Văn T yêu cầu Phạm Văn T chuyển cho Nguyễn Kông H số tiền 0.000.000đ để nộp thuế đất tách thửa cho Phạm Văn T3. Phạm Văn T chuyển khoản cho Nguyễn Kông H số tiền 7.000.000đ. Sau khi nhận tiền Nguyễn Kông H đã đem đi trả các khoản nợ đã vay mượn trư c đó.

Tổng số tiền mà Nguyễn Kông H chiếm đoạt của Phạm Văn T là 07.000.000đ.

4. Chiếm đoạt tiền của Đỗ Thị Phư ng L (SN: 03/11/1985; trú: K T, quận H, thành phố Đà Nẵng).

Khi biết tin Huỳnh Ngọc P Q là chồng của Đỗ Thị Phư ng L cùng v i một số đối tượng khác bị Công an quận N bắt về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, Nguyễn Kông H đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của Đỗ Thị Phư ng L nên đã liên hệ v i Đỗ Thị Phư ng L nói dối là có thể chạy án cho chồng của Đỗ Thị Phư ng L không bị xử lý hình sự và yêu cầu Đỗ Thị Phư ng L đưa tiền cho Nguyễn Kông H. Vì tin tưởng nên Đỗ Thị Phư ng L đã đưa tiền cho Nguyễn Kông H. Cụ thể:

Ngày 07.8.202 , Nguyễn Kông H yêu cầu Đỗ Thị Phư ng L đưa cho Nguyễn Kông H số tiền 50.000.000đ và chuyển vào tài khoản số 0587 74498

- Ngân hàng C4 của Nguyễn Tấn D (SN: 994, trú: Tổ 4 Túy Loan Đ, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng), Đỗ Thị Phư ng L đồng ý và sử dụng tài khoản số 0905222798 – Ngân hàng Q để chuyển tiền. Sau đó Nguyễn Kông H bảo Nguyễn Tấn D chuyển tiền qua tài khoản số: 970422920864267965 – Ngân hàng Q (mở trên App V) của Nguyễn Kông H.

Ngày 09.8.202 , Nguyễn Kông H yêu cầu Đỗ Thị Phư ng L đưa cho Nguyễn Kông H số tiền 250.000.000đ và chuyển vào tài khoản số 105871744981 - Ngân hàng C4 của Nguyễn Tấn D (SN: 994, trú: Tổ 4 Túy Loan Đ, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng), Đỗ Thị Phư ng L đồng ý và sử dụng tài khoản số 0905222798 – Ngân hàng Q để chuyển tiền. Sau đó, theo yêu cầu của Nguyễn Kông H, Nguyễn Tấn D đã chuyển tiền lại cho Nguyễn Kông H.

Cùng ngày 09.8.202 , Nguyễn Kông H yêu cầu Đỗ Thị Phư ng L đưa cho Nguyễn Kông H số tiền 00.000.000đ và chuyển vào tài khoản số 9704229208642679651 – Ngân hàng Q1 (mở trên App V) của Nguyễn Kông H, Đỗ Thị Phư ng L đồng ý và sử dụng tài khoản số 0054 0000458 008 – Ngân hàng P4 để chuyển tiền cho Nguyễn Kông H.

Ngày 0.8.202 , H yêu cầu Đỗ Thị Phư ng L đưa cho Nguyễn Kông H số tiền 00.000.000đ và chuyển vào tài khoản số 970422920864267965 – Ngân hàng Q (mở trên App V) của Nguyễn Kông H, Đỗ Thị Phư ng L nói không đủ tiền chỉ có 8 .000.000đ và Đỗ Thị Phư ng L sử dụng tài khoản số 0905222798 – Ngân hàng Q để chuyển cho Nguyễn Kông H số tiền 8 .000.000đ.

Ngày .8.202 , Nguyễn Kông H yêu cầu Đỗ Thị Phư ng L đưa cho Nguyễn Kông H số tiền 00.000.000đ và chuyển vào tài khoản số 9704229208642679651 – Ngân hàng Q1 (mở trên App V) của Nguyễn Kông H, Đỗ Thị Phư ng L không đồng ý. Nguyễn Kông H nói Đỗ Thị Phư ng L đưa trư c số tiền 50.000.000đ, khi nào chồng về thì đưa tiếp cho Nguyễn Kông H, nếu thiếu Nguyễn Kông H cho mượn trư c, Đỗ Thị Phư ng L đồng ý và chuyển cho Nguyễn Kông H số tiền 00.000.000đ (L sử dụng tài khoản số 0054100004583008 – Ngân hành P để chuyển tiền cho H 80 triệu, còn 20.000.000 L chuyển tiền mặt tại của hàng V đường N).

Ngày 2.8.202 , Nguyễn Kông H tiếp tục yêu cầu Đỗ Thị Phư ng L đưa tiền cho Nguyễn Kông H để đủ số tiền 50.000.000đ và chuyển vào tài khoản số 9704229208642679651 – Ngân hàng Q (mở trên App V) của Nguyễn Kông H, Đỗ Thị Phư ng L nói không đủ tiền và chỉ có 8.000.0000đ và Đỗ Thị Phư ng L sử dụng tài khoản số 0054 0000458 008 – Ngân hàng P4 để chuyển cho Nguyễn Kông H số tiền 8.000.000đ. Sau khi nhận số tiền trên Nguyễn Kông H đã đem đi trả các khoản nợ đã vay mượn trư c đó.

Tổng số tiền Nguyễn Kông H chiếm đoạt của Đỗ Thị Phư ng L là: 62 .000.000đ.

5. Chiếm đoạt tiền của Nguyễn Thị Tố P2 (SN: 1988, trú: tổ D, phường K, quận N, thành phố Đà Nẵng):

Tháng 9 202 , v i ý định chiếm đoạt tài sản nên Nguyễn Kông H nói dối v i Nguyễn Thị Tố P2 là Nguyễn Kông H làm trong ban quản lý dự án huyện H, có quen biết nên có nhiều c hội đầu tư và rủ Nguyễn Thị Tố P2 góp tiền cùng Nguyễn Kông H mua đất dự án bán lại để kiếm lời, chỉ cần Nguyễn Thị Tố P2 góp số tiền 20.000.000đ, Nguyễn Kông H sẽ ghi giấy mượn v i số tiền 50.000.000đ ( 0.000.000đ xem như tiền lời), Nguyễn Thị Tố P2 đồng ý. Nguyễn Kông H viết cho Nguyễn Thị Tố P2 0 tờ giấy mượn tiền v i nội dung: ngày 25 9 2022, Nguyễn Kông H có mượn của Nguyễn Thị Tố P2 số tiền 50.000.000đ , hẹn đến ngày 0 2022 Nguyễn Kông H phải có trách nhiệm trả lại số tiền trên cho Nguyễn Thị Tố P2. Sau đó, Nguyễn Thị Tố P2 đã nhiều lần chuyển tiền cho Nguyễn Kông H qua tài khoản ngân hàng M số tài khoản 9704229208641679651 mang tên Nguyễn Kông H. Cụ thể: Ngày 02 0 202 , P2 chuyển khoản cho H 50.000.000đ, ngày 07 0 202 P2 chuyển khoản cho H 50.000.000đ, ngày 2 0 202 P2 chuyển khoản cho H 50.000.000đ. Sau khi nhận tiền của Nguyễn Thị Tố P2, Nguyễn Kông H đã đem đi trả các khoản nợ đã vay mượn trư c đó.

Tổng số tiền Nguyễn Kông H chiếm đoạt của Nguyễn Thị Tố P2 là: 50.000.000đ.

6. Chiếm đoạt tiền của Nguyễn Văn C (SN: 1964, trú: 23 T, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng):

Tháng 202 , Nguyễn Văn C có nhu cầu làm sổ đỏ cho lô đất của mình tại phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng (hồ s 0 lá) nên đã nhờ Nguyễn Kông H làm giúp. Mặc dù biết không có khả năng làm sổ đỏ cho lô đất trên nhưng v i ý định chiếm đoạt tiền của Nguyễn Văn C , Nguyễn Kông H vẫn nhận hồ s làm sổ đỏ và yêu cầu Nguyễn Văn C đưa tiền cho H. Nguyễn Văn C1 đã nhiều lần đưa tiền cho Nguyễn Kông H. Cụ thể: lần 0 đưa số tiền: 70.000.000đ; lần 2 đưa số tiền: 20.000.000đ và 05 lần đưa số tiền: 0.000.000 lần và H có viết 0 tờ giấy nhận hồ s v i nội dung: H có nhận của ông C1 0 đ n xin giao đất để xây dựng nhà ở, tổng số tiền H nhận 60.000.000đ (thực tế H chỉ nhận 40.000.000đ) và hẹn đến ngày 0 2022 H phải có trách hiệm hoàn tất thủ tục nếu không phải có trách hiệm trả lại tiền. Sau khi nhận tiền, Nguyễn Kông H đã đem đi trả các khoản nợ đã vay mượn trư c đó mà không làm sổ đỏ cho Nguyễn Văn C .

Tổng số tiền Nguyễn Kông H chiếm đoạt Nguyễn Văn C là: 40.000.000đ.

7. Chiếm đoạt tiền của Huỳnh Hữu C2 (SN: 1993, trú: thôn C, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng):

Tháng 2 2022, v i ý định chiếm đoạt tài sản Nguyễn Kông H sử dụng mạng xã hội facebook rủ v i Huỳnh Hữu C2 góp tiền mua đất loại đất không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở cuối đường P, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng sau đó làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chuyển nhượng lại cho người khác để kiếm lời. Nguyễn Kông H đưa Huỳnh Hữu C2 đi xem lô đất (không rõ của ai), Nguyễn Kông H khoe có mối quan hệ v i lãnh đạo thành phố, lãnh đạo quận và để tạo niềm tin cho Huỳnh Hữu C2, Nguyễn Kông H viết cho Huỳnh Hữu C2 giấy mượn tiền v i nội dung: vào ngày 2 02 2022, H có mượn của C2 số tiền: 250.000.000đ, hẹn đến ngày 0 8 2022 H phải trả lại C2 số tiền 250.000.000đ nếu không H phải chịu trách nhiệm, đồng thời Nguyễn Kông H dựng lên một người tên K (không xác định) hối thúc H mua nhanh để làm giấy tờ, sau đó yêu cầu Huỳnh Hữu C2 chuyển tiền góp vốn. Huỳnh Hữu C2 đã nhiều lần chuyển tiền cho Nguyễn Kông H vào tài khoản ngân hàng M v i số tài khoản 09 4466 69 của Nguyễn Kông H. Cụ thể: ngày 2 02 2022 chuyển số tiền 00.000.000đ, ngày 7 02 2022 chuyển số tiền 00.000.000đ, ngày 2 02 2022 chuyển số tiền 50.000.000đ, ngày 26 02 2022 chuyển số tiền 5.000.000đ, ngày

0 2022 chuyển số tiền 5.000.000đ, ngày 2 0 2022 chuyển số tiền 2.000.000đ. Sau khi nhận tiền, Nguyễn Kông H đã đem đi trả các khoản nợ đã vay mượn trư c đó.

Tổng số tiền Nguyễn Kông H đã chiếm đoạt của Huỳnh Hữu C2 là: 262.000.000đ.

8. Chiếm đoạt tiền của Nguyễn Ngọc P (SN: 1977; trú: A N, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng).

Tháng 202 , Nguyễn Ngọc P có nhu cầu làm giấy chứng nhận quyền sử dụng lô đất của mình nên nhờ Nguyễn Kông H làm giúp, mặc dù không có khả năng làm giấy tờ đất cho Nguyễn Ngọc P nhưng v i ý định chiếm đoạt tài sản Nguyễn Ngọc P nên Nguyễn Kông H đồng ý và yêu cầu Nguyễn Ngọc P đưa cho Nguyễn Kông H số tiền 5.000.000đ. Ngày 22 0 202 , tại nhà nghỉ Q2 (địa chỉ: số D Đoàn T, thành phố Đà Nẵng) vợ chồng Nguyễn Ngọc P đã đưa cho Nguyễn Kông H số tiền 5.000.000đ, sau khi nhận tiền Nguyễn Kông H không làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Nguyễn Ngọc P mà mang đi trả nợ các khoản vay mượn trư c đó.

Ngoài ra, Nguyễn Kông H còn nói dối bản thân đang đầu tư dự án tỷ, cần có tiền để lo hồ s nên đã nhiều lần hỏi mượn tiền của Nguyễn Ngọc P , do tin tưởng nên Nguyễn Ngọc P đồng ý cho mượn. Cụ thể: ngày 9 202 đưa tiền mặt số tiền 60.000.000đ (có viết giấy mượn tiền), ngày 0 202 đưa tiền mặt số tiền 25.000.000đ, chuyển qua tài khoản V1 pay số tiền 20.000.000đ, ngày 09 2 202 đưa tiền mặt số tiền 90.000.000đ, ngày 4.0 2022 chuyển qua tài khoản V1 số tiền . 00.000đ; chuyển qua tài khoản khoản MB 97 422920864 6 số tiền: 2.900.000đ. Sau khi nhận tiền Nguyễn Kông H đã mang đi trả nợ các khoản vay mượn trư c đó.

Tổng số tiền Nguyễn Kông H chiếm đoạt của Nguyễn Ngọc P là 2 4.200.000đ.

* Tang vật tạm giữ:

- 0 Giấy đăng ký kết hôn mẫu BTP HT-2026 số 7, quyển số 0 2009 giữa Phạm Văn T và Nguyễn Phư ng T do UBND thành phố Đ, Quảng Trị cấp.

- 0 Giấy phép xây dựng số: 6 9 UBND-GPXD ngày 8 20 7 do UBND quận C cấp để xây nhà tại thửa đất số 28, tờ bản đồ số 27 thuộc tổ B, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng.

- 0 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CH774852 của thửa đất số 28, tờ bản đồ số 27 thuộc tổ B, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng cấp cho ông Phạm Văn T và Nguyễn Phư ng T .

- 0 Biên bản xác nhận thanh toán tiền đất ngày 6 0 20 4.

- 0 điện thoại di động hiệu Iphone số Imel: 5 0 002 484 . Đây là điện thoại Nguyễn Kông H sử dụng để nhắn tin trao đổi v i chị Đỗ Thị Phư ng L.

- Phiếu yêu cầu dịch vụ của Đỗ Thị Phư ng L số tiền giao dịch: 20.000.000đ, người nhận Nguyễn Kông H. Ngân hàng: VTT – BankPlus, số TK: 9704229208641679651.

- 0 Giấy nhận hồ s ghi ngày 28 2 2022 có chữ ký của Nguyễn Kông H và Nguyễn Văn C .

- 0 Giấy mượn tiền 60.000.000đ triệu đồng ngày 09 202 có chữ ký của Nguyễn Kông H và Nguyễn Ngọc P .

- 0 Giấy nhận tiền ghi ngày 25 6 202 có chữ ký của Nguyễn Kông H, Phạm Văn T , người làm chứng Đoàn Duy B.

- 0 Giấy mượn tiền ghi ngày 25 9 202 có chữ ký của Nguyễn Kông H và Nguyễn Thị Tố P2.

- 0 Giấy mượn tiền ghi ngày 2.02.2022 v i nội dung: Nguyễn Kông H mượn của Huỳnh Hữu C2 số tiền 250.000.000đ hẹn đến ngày 0.8.2022 H sẽ trả lại tiền cho C2.

- 0 Giấy xác nhận nợ giữa Nguyễn Tấn D v i Nguyễn Kông H số tiền 200.000.000đ ngày 4 5 202 .

- 0 Giấy xác nhận nợ giữa Nguyễn Tấn D v i Nguyễn Kông H số tiền 0.000.000đ ngày 5 4 202 .

- 0 Biên bản xác nhận công nợ giữa Nguyễn Tấn D v i Nguyễn Trị số tiền 50.000.000đ ngày 6 2022.

- 0 hình ảnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Nguyễn Thị T7.

- 0 Quyết định số: 0 QĐ-UB ngày 20. .20 6 của UBND huyện H giao 0ha đất hg đn tại thôn T, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng cho hai hộ: Nguyễn Kông H và Ngô Thị X (ranh gi i, vị tri đất giao kèm theo bản vẽ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rừng và đất trồng rừng số: 9 98)- bản photo.

- 0 Giấy chứng nhận quyền sử dụng rừng và đất rừng số: 9 98 (bản photo).

- Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 09.6.2020 giữa Dư ng Hồ Tiến T4 và Lưu Văn T5 (không công chứng).

- 0 hình ảnh giấy biên nhận tiền đặt cọc ngày 27.5.2020 giữa Dư ng Hồ Tiến T4 và Lưu Văn T5.

- 0 hình ảnh giấy đưa tiền ghi ngày 0.5.2020 giữa Dư ng Hồ Tiến T4 và Lưu Văn T5.

- 0 hình ảnh giấy mượn tiền ghi ngày 9.5.202 v i nội dung: Nguyễn Kông H có mượn của Lê Trung P số tiền 0.000.000đ.

- 0 hình ảnh giấy mượn tiền không ghi ngày tháng v i nội dung: Nguyễn Kông H có mượn của ông Lê Trung P số tiền 625.000.000đ.

- 0 hình ảnh đ n kiến nghị ghi ngày 08 7 202 người làm đ n Nguyễn G;

- 0 biên bản xác nhận nợ ghi ngày 6 2022 v i nội dung: Nguyễn Kông H có vay số tiền 760.000.000đ được xác lập giữa Lê Trung P và Nguyễn Trị .

- 0 biên bản xác nhận công nợ ghi ngày 6. .2022 giữa Lê Trung P v i Nguyễn Trị .

- Số tiền 2.200.000đ.

- Các bản ảnh zalo chụp nội dung trao đổi giữa: Nguyễn Kông H và Dư ng Hồ Tiến T4; giữa Nguyễn Kông H v i Đỗ Thị Phư ng L; giữa Nguyễn Kông H v i Nguyễn Ngọc P ; Nguyễn Kông H v i Nguyễn Thị Tố P2; giữa Nguyễn Kông H v i Huỳnh Hữu C2; giữa Nguyễn Kông H v i Nguyễn Tấn D; giữa Nguyễn Kông H v i Lưu Văn T5.

Tại Kết luận giám định số: 96 KL-KTHS ngày 7 5 202 của Phòng K Công an thành phố Đ kết luận:

. Không đủ c sở kết luận chữ ký mang tên Dư ng Hồ Tiến T4 trên tài liệu cần giám định ký hiệu A so v i chữ ký Dư ng Hồ Tiến T4 trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M đến M4 có phải do cùng một người ký ra hay không.

. 2 Chữ ký, chữ viết mang tên Dư ng Hồ Tiến T4 trên tài liệu cần giám định ký hiệu A và A2 (trừ chữ ký đã kết luận tại mục . phần V. KẾT LUẬN VỀ ĐỐI TƯỢNG GIÁM ĐỊNH) so v i chữ ký, chữ viết của Dư ng Hồ Tiến T4 trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M đến M4 do cùng một người ký và viết ra.

2. Không đủ c sở kết luận chữ ký mang tên Nguyễn Kông H trên tài liệu cần giám định ký hiệu A2 so v i chữ ký Nguyễn Kông H trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M5 đến M7 có phải do cùng một người ký ra hay không.

2.2 Chữ ký, chữ viết mang tên Nguyễn Kông H trên tài liệu cần giám định ký hiệu A và A2 (trừ chữ ký đã kết luận tại mục . phần V. KẾT LUẬN VỀ ĐỐI TƯỢNG GIÁM ĐỊNH) so v i chữ ký, chữ viết của Nguyễn Kông H trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M5 đến M7 cùng một người ký và viết ra.

Quá trình điều tra ban đầu Nguyễn Kông H khai báo quanh co nhưng sau đó Nguyễn Kông H và Dư ng Hồ Tiến T4 đã thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi của mình.

Tại ản án h nh sự s th m s 14/2024/HSST ngà 24/01/2024 của T a án nh n d n thành ph Đà N ng đ qu ết định:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Kông H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

2. Về điểm, khoản, Điều luật ộ luật h nh sự áp dụng và mức h nh phạt đ i với từng bị cáo:

Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 74; điểm g khoản Điều 52; điểm b, s khoản , khoản 2 Điều 5 ; Điều 58; khoản Điều 54 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Kông H 10 (M) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam, 08 07 2022.

Ngoài ra, bản án s thẩm còn quyết định về phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử s thẩm, ngày 29 0 2024 bị cáo Nguyễn Kông H có đ n kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên t a phúc th m hôm na :

Bị cáo Nguyễn Kông H vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo đã rõ; tuy nhiên sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, tích cực khắc phục hậu quả; sau khi xét xử s thẩm bị cáo đã tác động gia đình tiếp tục khắc phục hậu quả cho 02 người bị hại v i số tiền là 75.000.000 đồng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Ý kiến của bị cáo Nguyễn Kông H: thống nhất như ý kiến của luật sư.

Ý kiến Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng:

Về tố tụng: bị cáo kháng cáo còn trong thời hạn luật định nên được chấp nhận.

Về nội dung: tội danh của bị cáo đã rõ; về hình phạt trên c sở các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, Toà án cấp s thẩm xử phạt bị cáo 0 năm tù là phù hợp, không nặng. Tại phiên toà phúc thẩm hôm nay, gia đình bị cáo xuất trình 02 giấy trả tiền cho người bị hại v i số tiền là 75.000.000 đồng. Đây là tình tiết m i phát sinh ở cấp phúc thẩm; đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên c sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ s vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[ ] Về tố tụng: bị cáo kháng cáo trong thời hạn luật định và hợp lệ nên được chấp nhận xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Tại phiên toà phúc thẩm hôm nay, bị cáo Nguyễn Kông H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp v i các tài liệu chứng cứ có trong hồ s vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ c sở xác định: trong khoảng thời gian từ năm 2020 đến tháng 02 năm 2022, do thua lỗ trong hoạt động kinh doanh, nợ nần ngoài xã hội nhiều, cần có tiền trả nợ và tiêu xài; Nguyễn Kông H đã nhiều lần đưa ra các thông tin gian dối như: kêu gọi góp vốn để kinh doanh bất động sản, góp vốn mua bán đất dự án; chạy giấy tờ để xin bố trí lại đất tái định cư, xin tách thửa đất, làm thủ tục cấp sổ đỏ cho đất có hồ s 02 lá, 0 lá; có khả năng chạy án cho đối tượng vi phạm pháp luật hình sự; vay mượn tiền để đầu tư dự án; đã nhận tiền của nhiều người rồi chiếm đoạt để trả nợ và tiêu xài cá nhân. Tổng số tiền H chiếm đoạt của các bị hại là 2.764.200.000 đồng; cụ thể: Chiếm đoạt của ông Lưu Văn T5 số tiền 70.000.000 đồng; chiếm đoạt của ông Lê Trung P số tiền 450.000.000đ; chiếm đoạt của ông Nguyễn Tấn D số tiền 4 0.000.000đ; chiếm đoạt của ông Phạm Văn T số tiền 07.000.000đ; chiếm đoạt của chị Đỗ Thị Phư ng L số tiền 62 .000.000đ; chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Tố P2 số tiền 50.000.000đ; chiếm đoạt của ông Nguyễn Văn C số tiền 40.000.000đ; chiếm đoạt của ông Huỳnh Hữu C2 số tiền 262.000.000đ; chiếm đoạt tiền của ông Nguyễn Ngọc P số tiền 2 4.200.000đ. Hành vi trên của bị cáo H là phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo tình tiết định khung “chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 500 triệu đồng trở lên” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 74 củaBộ luật hình sự.

[ ] Xét tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: hành vi phạm tội của bị cáo H là đặc biệt nghiêm trọng, không những đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ; mà còn gây ảnh hưởng rất xấu đến trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phư ng, cũng như ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của các bị hại. Bị cáo H là người khởi xư ng, lôi kéo bị cáo T4 vào việc phạm tội; trực tiếp đưa ra thông tin gian dối v i các bị hại; thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần, chiếm đoạt và thụ hưởng số tiền trên 2,5 tỷ đồng đến nay m i khắc phục được phần thiệt hại cho các bị hại, vì vậy cần xử phạt nghiêm.

Toà án cấp s thẩm khi quyết định hình phạt đối v i bị cáo đã xem xét và áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự bị cáo không có. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự; đã từng tham gia nghĩa vụ Công an và được tặng Giấy khen hoàn thành xuất sắc; gia đình bị cáo có thân nhân tham gia cách mạng được Nhà nư c ghi nhận là Liệt sỹ; quá trình tố tụng đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; trư c khi bị khởi tố và sau khi bị khởi tố đã bồi thường, tác động gia đình bồi thường khắc phục một phần thiệt hại cho các bị hại (bồi thường h n tỷ đồng cho 6 bị hại); bị cáo là lao động chính, có 0 con sinh năm 202 . V i những tình tiết như nêu trên, Toà án cấp s thẩm đã xử phạt bị cáo 0 năm tù là phù hợp, không nặng. Tuy nhiên, tại phiên toà phúc thẩm, gia đình bị cáo đã xuất trình 02 giấy trả tiền cho 02 bị hại v i số tiền là 75.000.000 đồng. Đây là tình tiết m i phát sinh ở cấp phúc thẩm, thể hiện sự ăn năn hối cải của bị cáo; vì vậy, cũng cần xem xét giảm thêm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo tốt s m trở về v i cộng đồng xã hội, làm một người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy ý kiến của Kiểm sát viên phù hợp v i nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận; chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án hình sự s thẩm.

Các quyết định khác của bản án hình sự s thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí hình sự phúc thẩm: do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

. Căn cứ điểm b khoản Điều 55; Điều 57 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuyên xử:

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Kông H, sửa Bản án hình sự s thẩm số 4 2024 HSST ngày 24 0 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

2. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 74; điểm g khoản Điều 52; điểm b, s khoản , khoản 2 Điều 5 ; Điều 58; khoản Điều 54của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Kông H 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 08/07/2022.

. Các quyết định khác của bản án hình sự s thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Việc thi hành án được thực hiện theo Bản án hình sự s thẩm nêu trên.

4. Về án phí hình sự phúc thẩm:Áp dụng Nghị quyết số 26 20 6 UBTVQH 4 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí lệ, phí Tòa án: bị cáo Nguyễn Kông H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. .

Cỡ chữ