vanban.org

Bản án 181/2023/HNGĐ-ST — Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị H, xác định anh K sinh năm 1986; nơi cư trú: Thôn B, xã L, huyện N, thành phố Hải Phòng là cha đẻ của con do chị H sinh ra ngày 21 tháng 02 năm 2023 theo Giấy chứng sinh số 01839, quyển số 19/2023 của Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng

Về án phí: Anh K phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền khá… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Bản án hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị H, xác định anh K sinh năm 1986; nơi cư trú: Thôn B, xã L, huyện N, thành phố Hải Phòng là cha đẻ của con do chị H sinh ra ngày 21 tháng 02 năm 2023 theo Giấy chứng sinh số 01839, quyển số 19/2023 của Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng
  • Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 181/2023/HNGĐ-ST
Ngày 07-9-2023
V/v tranh chấp xác định cha cho con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, THÀNH PHỐHẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Bùi Đức Khoa

Ông Phạm Văn Sóng

- Thư ký phiên tòa: Ông Phùng Thế Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện N, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 148/2023/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2023 về việc tranh chấp xác định cha cho con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 171/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị H, sinh năm 1988; nơi cư trú: Thôn 5, xã H, huyện N, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Bị đơn: Anh K, sinh năm 1986; nơi cư trú: Thôn Bấc, xã L, huyện N, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh T, sinh năm 1987; nơi cư trú: Khu 10, thị trấn H, huyện L, tỉnh P; vắng mặt và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 21 tháng 3 năm 2023, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn là chị H trình bày:

Chị kết hôn với anh T vào năm 2012 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Hùng Sơn, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh được 03 con chung tên P sinh ngày 22 tháng 8 năm 2013, Lê Vũ Minh Ngọc sinh ngày 09 tháng 12 năm 2017 và Đ sinh ngày 15 tháng 8 năm 2020. Quá trình vợ chồng chung sống đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn nên chị và anh T đã sống ly thân nhau từ năm 2020. Năm 2022 chị H có quan hệ tình cảm và có thai với anh K. Ngày 18 tháng 7 năm 2022 Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Phú Thọ giải quyết cho chị H và anh T được ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự số 95/2022/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2022. Ngày 21 tháng 02 năm 2023 chị H sinh được 01 con trai dự định đặt tên là T tại Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng theo giấy chứng sinh số 01839, quyển số 19/2023 của Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng. Ngày 13 tháng 3 năm 2023 chị H và anh K đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện N, thành phố Hải Phòng nhưng không đăng ký khai sinh cho con được vì chị H có thai trong thời kỳ hôn nhân với anh T. Ngày 03 tháng 4 năm 2023 anh K đề nghị Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng xét nghiệm gen (ADN) của anh K và gen (ADN) của con do chị H sinh ra ngày 21 tháng 02 năm 2023 tại Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng, kết quả xác định anh K và cháu Tcó quan hệ huyết thống trực hệ bố - con. Nay chị H yêu cầu Tòa án giải quyết xác định anh K là cha đẻ của con do chị H sinh ra ngày 21 tháng 02 năm 2023 theo Giấy chứng sinh số 01839, quyển số 19/2023 của Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng.

Tại bản tự khai ngày 13 tháng 6 năm 2023, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà bị đơn là anh K trình bày:

Năm 2022 anh có quan hệ tình cảm với chị H và chị H đã có thai. Khi có quan hệ tình cảm với chị H, anh K biết chị H đã kết hôn với anh T và có 03 con riêng nhưng chị H và anh T đã sống ly thân nhau từ năm 2020. Ngày 18 tháng 7 năm 2022 Toà án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ đã giải quyết cho chị H và anh T ly hôn. Ngày 21 tháng 02 năm 2023 chị H sinh được 01 con trai dự định đặt tên là Ttại Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng theo giấy chứng sinh số 01839, quyển số 19/2023 của Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng. Ngày 13 tháng 3 năm 2023 chị H và anh K đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện N, thành phố Hải Phòng nhưng không đăng ký khai sinh cho con được vì chị H có thai trong thời kỳ hôn nhân với anh T. Ngày 03 tháng 4 năm 2023 anh K đề nghị Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng xét nghiệm gen (ADN) của anh K và gen (ADN) của con do chị H sinh ra ngày 21 tháng 02 năm 2023 tại Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng, kết quả xác định anh K và cháu Tcó quan hệ huyết thống trực hệ bố - con. Nay chị H yêu cầu Tòa án giải quyết xác định anh K là cha đẻ của con do chị H sinh ra ngày 21 tháng 02 năm 2023 theo giấy chứng sinh số 01839, quyển số 19/2023 của Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng, anh K khẳng định anh là cha đẻ của con do con do chị H sinh ra ngày 21 tháng 02 năm 2023 nên anh đề nghị Tòa án giải quyết chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh T vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai trình bày:

Anh và chị H có quan hệ là vợ chồng nhưng ngày 18 tháng 7 năm 2022 đã ly hôn theo quyết định số 95 của Toà án nhân dân huyện L, tỉnh Phú Thọ. Quá trình chung sống có 03 con chung tên P sinh ngày 22 tháng 8 năm 2013, Lê Vũ Minh Ngọc sinh ngày 09 tháng 12 năm 2017 và Đ sinh ngày 15 tháng 8 năm 2020. Con do chị H sinh ra ngày 21 tháng 02 năm 2023 không phải là con của anh T. Anh T đã nhận được thông báo của Toà án nhưng vì lý do công việc nên anh đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện N, thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và ý kiến về việc giải quyết vụ án. Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; nguyên đơn là chị H, bị đơn là anh K và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh T đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 88, Điều 101 và Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị H, xác định anh K là cha đẻ của con do chị H sinh ra ngày 21 tháng 02 năm 2023 theo Giấy chứng sinh số 01839, quyển số 19/2023 của Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng. Về án phí: Anh K phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh T vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Vì vậy căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh T.

Về yêu cầu xác định cha cho con của nguyên đơn là chị H: Chị H và anh T có quan hệ là vợ chồng. Ngày 18 tháng 7 năm 2022 Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ giải quyết cho chị H và anh T được ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự số 95/2022/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2022. Ngày 21 tháng 02 năm 2023 chị H sinh được 01 con tại Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng theo Giấy chứng sinh số 01839, quyển số 19/2023 của Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng. Như vậy chị H có thai trong thời kỳ hôn nhân (thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng) với anh T nhưng anh T khẳng định con do chị H ngày 21 tháng 02 năm 2023 theo giấy chứng sinh số 01839, quyển số 19/2023 của Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng không phải là con đẻ của anh T, còn chị H và anh K khẳng định anh K là cha đẻ của con do chị H sinh ra ngày 21 tháng 02 năm 2023 theo giấy chứng sinh số 01839, quyển số 19/2023 của Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng phù hợp với thông báo kết quả xác định huyết thống bố con số 55/TB-KTHS(SH) ngày 10 tháng 4 năm 2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng kết luận anh K và con do chị H sinh ra ngày 21 tháng 02 năm 2023 dự định đặt tên là Tcó quan hệ huyết thống trực hệ bố - con. Vì vậy căn cứ Điều 88, khoản 2 Điều 101, khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị H, xác định anh K là cha đẻ của con do chị H sinh ra ngày 21 tháng 02 năm 2023 theo Giấy chứng sinh số 01839, quyển số 19/2023 của Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng.

Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, anh K phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 88, khoản 2 Điều 101 và khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị H, xác định anh K sinh năm 1986; nơi cư trú: Thôn B, xã L, huyện N, thành phố Hải Phòng là cha đẻ của con do chị H sinh ra ngày 21 tháng 02 năm 2023 theo Giấy chứng sinh số 01839, quyển số 19/2023 của Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng

2. Về án phí: Anh K phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Đương sự;

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- TAND thành phố Hải Phòng;

- VKSND huyện N;

- Chi cục THADS huyện N;

- UBND xã L, huyện N, thành phố Hải Phòng;

- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

Nguyễn Thị Thu Hiền

Cỡ chữ