- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 47, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 181/2022/HS-ST Ngày: 30 – 6 – 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Thiệu Văn Kết Em.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Văn Công
Bà Lê Thị Thiện.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Tấn, Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Tuân - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 182/2022/TLST- HS ngày 01 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 186/2022/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo:
Hoàng Đình T, sinh năm 1984 tại tỉnh Thanh Hóa; nơi thƣờng trú: Thôn Y, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Đình S, sinh năm 1961 và bà Lý Thị V, (đã chết); tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 26/12/2021 cho đến nay. Có mặt.
Bị hại: Ông Lê Nhƣ Tr, sinh năm 1973; Nơi cƣ trú: khu phố N, phƣờng Dĩ, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng. Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1989; Nơi cƣ trú: Thôn Y, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
Ngƣời làm chứng: Ông Lƣơng Văn H. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Khoảng 20 giờ ngày 26/12/2021, ông Tr ngồi xem đá bóng cùng ông Lƣơng Văn H, sinh năm 1967, HKTT: Xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang tại trƣớc nhà số: D, khu phố 4, phƣờng A, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, trong lúc xem đá bóng ông Tr bật loa âm lƣợng lớn gây ồn ào. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, T đi ăn uống về nghe thấy ông Tr mở loa lớn ồn ào nên T yêu cầu ông Tr giảm âm lƣợng nhƣng ông Tr không thực hiện dẫn đến mâu thuẫn chửi nhau nên T đi về nhà. Lúc này, ông Tr và ông H vẫn tiếp tục chửi T, bực tức nên T đi vào nhà lấy 01 con dao dài 35cm bằng kim loại rồi đi ra cửa thì bị ông Tr và ông H cầm gạch, đá ném T nhƣng không trúng. Thấy T cầm dao thì ông Tr và ông H bỏ chạy, T vừa chạy đuổi theo ông Tr vừa cầm dao chém với 02 nhát, đầu lƣỡi dao trúng vào vùng sau đầu của ông Tr gây thƣơng tích chảy máu, ông Tr tiếp tục bỏ chạy thêm khoảng 20m nữa thì quay ngƣời lại dùng tay đẩy T té ngã xuống đất rồi đè T xuống để giật lấy con dao trên tay T nhƣng không đƣợc. Lúc này T ngồi dậy, cầm dao bằng tay phải chém 03 nhát trúng vào cánh tay trái, cẳng tay trái và đầu gối phải của ông Tr gây thƣơng tích chảy máu nên ông Tr quay ngƣời tiếp tục bỏ chạy, T đuổi theo khoảng 10 mét nữa thì dừng lại rồi cầm dao đi đến nhà ông Trần Ngọc Hiến, sinh năm 1986, HKTT: Xóm 7, xã Diễn Cát, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, ở cách nhà T khoảng 1km kể lại sự việc chém ông Tr cho ông H nghe. Sau đó, ông H chở T đến Công an phƣờng An Phú đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội.
Ông Lê Nhƣ Tr sau khi bị T chém gây thƣơng tích, đã đƣợc ngƣời dân đƣa đi cấp cứu tại Bệnh viên đa khoa tỉnh Bình Dƣơng, sau đó ông Tr làm đơn yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự và giám định thƣơng tích.
Vật chứng thu giữ trong vụ án: 01 con dao dài 35cm bằng kim loại, cán bằng kim loại, loại dao không có mũi.
Bản kết luận giám định pháp y về thƣơng tích số 95/2022/GĐPY ngày 27/01/2022 của Tr tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh Bình Dƣơng kết luận tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây nên của ngƣời bị hại Lê Nhƣ Tr là 29%; Gồm: 02 vết thƣơng đầu vùng chẩm trái 9 x 0,5cm và 6 x 0,5cm, sẹo lành. Nứt sọ bản ngoài chẩm trái dài 4,5cm; vết thƣơng mặt trong 1/3 dƣới cánh tay trái 8 x 0,3 cm, vết thƣơng mặt trong gối phải 7 x 0,3cm sẹo lành; Vết thƣơng mặt sau 1/3 giữa cẳng tay trái 8,5 x 0,2cm, đứt cơ duỗi chung các ngón II, II, IV, V, cơ duỗi riêng ngón V, cơ duỗi cổ tay trụ, đứt thần kinh gian cốt sau đã phẩu thuật khâu nối cơ, thần kinh. Di chứng: Tổn thƣơng thần kinh gian cốt sau, hạn chế vận động các ngón bàn tay trái
Bản Cáo trạng số 179/CT-VKS -TA ngày 31/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo Hoàng Đình T về tội “Cố ý gây thƣơng tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Hoàng Đình T từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không đề cập.
- Bị cáo Hoàng Đình T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thống nhất tội danh, khung hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng, không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, trở thành công dân tốt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thuận An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Về sự vắng mặt của bị hại: Sau khi nhận Quyết định đƣa vụ án ra xét xử của Toà án bị hại ông Lê Nhƣ Tr có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Xét thấy, đây là sự tự nguyện của bị hại. Việc vắng mặt của các bị hại không gây trở ngại cho việc xét xử và phù hợp với quy định Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Lời khai nhận tội của bị cáo Hoàng Đình T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết luận giám định, lời khai của bị hại, ngƣời làm chứng, vật chứng thu giữ có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng hơn 21 giờ 00 phút ngày 26/12/2021 tại nhà trọ số Ô 67, DC 14, khu phố 4, phƣờng An Phú, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, do có mâu thuẫn trong việc ông Lê Nhƣ Tr xem bóng đá mở loa lớn ồn ào, T yêu cầu ông Tr giảm âm lƣợng nhƣng ông Tr không thực hiện dẫn đến mâu thuẫn chửi nhau, khi T về nhà ông Tr tiếp tục sang nhà chửi và dùng gạch đá ném T nên T đã dùng con dao dài 35cm bằng kim loại đuổi chém ông Tr gây thƣơng tích, kết quả giám định xác định tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây nên của bị hại Lê Nhƣ Tr là 29%. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thƣơng tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là ngƣời có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức đƣợc việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhƣng chỉ vì mâu thuẫn nhỏ, bị cáo không tìm cách ứng xử khác phù hợp đạo đức, pháp luật mà sử dụng dao có lƣỡi bằng kim loại, là hung khí nguy hiểm chém bị hại gây thƣơng tích. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của ngƣời khác, gây mất an ninh, trật tự xã hội tại địa phƣơng, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, do đó cần xử phạt bị cáo với mức án tƣơng xứng, cách ly ra khỏi xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, trong vụ án này cũng có phần lỗi của bị hai, bản thân bị hại đã gây mất trật tự, khi bị cáo nhắc nhở còn chửi bị cáo và cầm gạch, đá ném bị cáo. Do đó, khi lƣợng hình cho bị cáo cũng cần cân nhắc cho phù hợp.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chƣa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tác động ngƣời nhà bồi thƣờng cho bị hại; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo đầu thù là tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Tr có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, quá trình điều tra thể hiện ông Tr đã nhận tiền bồi thƣờng là 200.000.000đồng, ông Tr không yêu cầu thêm về bồi thƣờng thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với số tiền là 200.000.000đồng bà Nguyễn Thị Th bồi thƣờng cho bị hại, quá trình điều tra bà Th không có yêu cầu bị cáo phải trả lại nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này bà Thúy có yêu cầu bị cáo trả lại số tiền trên sẽ đƣợc giải quyết bằng vụ án dân sự khác.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 47, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Các Điều 136, 292 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
- Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Hoàng Đình T phạm tội “Cố ý gây thƣơng tích”.
Xử phạt bị cáo Hoàng Đình T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/12/2021.
2. Về án phí:
Bị cáo Hoàng Đình T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo và ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND, Sở Tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thành phốThuận An; - Công an, Chi cục THADS thành phố Thuận An; - Chánh án (để báo cáo); - Bị cáo, ngƣời tham gia tố tụng khác; - Lƣu HS, THAHS, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ TH7ẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thiệu Văn Kết Em |