vanban.org

Bản án 181/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Bến Cát, tỉnh Bình Dương Tuyên án 09/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Quốc B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trần Quốc B 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24 tháng 6 năm 2022. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, 585, 586, 589, 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Quốc Bảo bị xét xử tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Quốc B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 357 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BẾN CÁT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 181/2022/HS-ST
Ngày: 09 – 11 – 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT – TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Nga

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Thành Tâm

2. Bà Nguyễn Kim Lý

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Nga – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 11 năm 2022 tại phòng xử án - Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 181/2022/HSST ngày 19 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 173/2022/QĐXXST - HS ngày 28 tháng 10 năm 2022, đối với bị cáo:

Trần Quốc B; sinh ngày: 08/8/2001, tại tỉnh Bình Phước; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp 2, xã TL, huyện ĐP, tỉnh Bình Phước; chỗ ở: Không có nơi cư trú nhất định; trình độ học vấn: 6/12; nghề nghiệp: Không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; cha: Trần Văn P, sinh năm 1972; mẹ: Phạm Thị L, sinh năm 1970; bị cáo là con út trong gia đình có 03 anh em.

Tiền án: Không

Tiền sự: Ngày 29/10/2018, Công an huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 52 đối với Trần Quốc B về hành vi trộm cắp tài sản với mức phạt tiền là 750.000 đồng, bị cáo chưa nộp phạt.

Nhân thân:

- Ngày 27/5/2020, Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xử phạt Trần Quốc B 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” đối với hành vi thực hiện ngày 22/7/2018 (chưa đủ 18 tuổi). Chấp hành xong hình phạt tù 25/8/2020.

- Ngày 16/12/2017, Công an thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 10 đối với Trần Quốc B về hành vi trộm cắp tài sản, với hình thức xử phạt là cảnh cáo.

- Ngày 20/6/2018, Công an huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 04 đối với Trần Quốc B về hành vi trộm cắp tài sản với hình thức xử phạt là cảnh cáo.

Ngày 24/6/2022, Trần Quốc B bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Bến Cát cho đến nay.

Bị hại: Bà Phạm Thị H, sinh năm: 1983; nơi cư trú: Ấp L, xã AT, thị xã BC, tỉnh Bình Dương.

(Bị cáo có mặt; bàH vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Quốc B là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp. B quen biết với La Ngọc Nhi (không rõ lai lịch) là người làm thuê tại nhà hàng Tư Ru thuộc ấp L, xã AT, thị xã BC, tỉnh Bình Dương do chị Phạm Thị H (sinh năm 1983, hộ khẩu thường trú: Ấp L, xã AT, thị xã BC, tỉnh Bình Dương) làm chủ.

Khoảng 20 giờ ngày 18/6/2022, B đi bộ đến nhà hàng Tư Ru để chơi với Nhi, sau đó B ngủ ở lại phòng của Nhi bên trong nhà hàng Tư Ru. Đến khoảng 17 giờ ngày 19/6/2022, B thức dậy đi về thì nhìn thấy phòng ngủ của chị H kế bên phòng của Nhi mở cửa. Lúc này, B nảy sinh ý định vào lấy trộm tài sản bán lấy tiền tiêu xài nên lén lút đi vào lục tìm lấy được 01 chiếc điện thoại di dộng hiệu OPPO F11 Rro, màu xanh tím của chị H đang sạc pin để trên bàn, rồi đi ra về. Sau đó, B đi đến nhà nghỉ Ánh Hồng thuộc ấp L, xã AT, thị xã BC thì gặp bạn tên Nam (không rõ lai lịch) và nói cho Nam biết B vừa lấy trộm được chiếc điện thoại OPPO F11 Rro, nhờ Nam tìm chỗ bán. Nam đồng ý và điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) chở B đến cửa hàng điện thoại AT thuộc ấp AT, xã AT, thị xã BC, tỉnh Bình Dương do anh Đỗ Văn N làm chủ yêu cầu bán chiếc điện thoại OPPO F11 Rro của chị H. Anh N không biết chiếc điện thoại do B trộm cắp được mà có nên đồng ý mua với số tiền 900.000 đồng. Tiền có được, B cho Nam 200.000 đồng, số tiền còn lại B sử dụng chơi điện tử hết.

Theo Kết luận định giá tài sản số 78/KL-HĐĐGTS ngày 28/6/2022, của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã Bến Cát, kết luận: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11 Pro, màu xanh tím, dung lượng 128GB, đã qua sử dụng trị giá 4.130.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 181/CT – VKSBC ngày 18/10/2022, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát truy tố bị cáo Trần Quốc B về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo, bị hại đồng ý với bản kết luận định giá tài sản và Cáo trạng Viện Kiểm sát truy tố. Bị hại yêu cầu bị cáo có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại số tiền 4.130.000đ.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố theo Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án từ 08 (tám) đến 10 (mười) tháng tù và tiếp tục bồi thường cho bị hại.

Tại phiên tòa bị cáo đồng ý đối với toàn bộ Cáo trạng, bản luận tội của Kiểm sát viên, không tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình. Bị cáo đã hối hận về hành vi mình đã thực hiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Bến Cát, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Trần Quốc B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng số 181/CT-VKSBC ngày 18/10/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát đã truy tố, đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 17 giờ 00 ngày 19/6/2022, tại nhà Bà Phạm Thị H, thuộc ấp L, xã AT, thị xã BC, tỉnh Bình Dương, Trần Quốc B có hành vi lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11 Pro màu xanh tím của bàH, tài sản được định giá 4.130.000 đồng.

Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật hình sự B vệ, tài sản bị thiệt hại được định giá là 4.130.000đ. Do đó đủ căn cứ kết luận bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội.

[03 Xét tính chất, mức độ hành vi bị cáo thực hiện: Hành vi bị cáo thực hiện gây mất trật tự trị an, an toàn tại địa phương. Bị cáo đã nhiều lần bị xử phạt hành chính, bị xét xử về tội xâm phạm sở hữu, tuy nhiên không tu dưỡng rèn luyện bản thân, tiếp tục phạm tội thể hiện sự xem thường pháp luật. Cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục và răn đe phòng ngừa chung.

Xét nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần thực hiện hành vi xâm phạm sở hữu.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên cần xem xét áp dụng cho bị cáo khi quyết định hình phạt. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị thiệt hại là 01 điện thoại OPPO F11, tuy nhiên không thu hồi được. Bà Phạm Thị H yêu cầu Trần Quốc B bồi thường bằng giá trị số tiền là 4.130.000 đồng, đến nay bị cáo chưa bồi thường do đó cần buộc bị cáo có nghĩa vụ bồi thường theo yêu cầu của bàH.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát về tội danh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Trần Quốc B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trần Quốc B 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24 tháng 6 năm 2022.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, 585, 586, 589, 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Bị cáo có nghĩa vụ bồi thường cho bà Trần Thị H số tiền 4.130.000đ (bốn triệu một trăm ba mươi nghìn đồng).

Kể từ ngày Quyết định có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

3. Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23, Điều 26 nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

4. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

5. Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ