vanban.org

Bản án 181/2020/HN&GĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

* Xử: Vắng mặt chị Vũ Thị L và anh Nguyễn Phúc H. * Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Vũ Thị L. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂNDÂN HUYỆN HẬU LỘC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Tỉnh Thanh Hóa

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:181/2020/HN&GĐ-ST
Ngày 22/9/2020.
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Cao Thị Nga

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thư

Ông Ngô Thị Hoài

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Chuyên - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa xét xử công khai sơ thẩm vụ án thụ lý số:106/2020/TLST- HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2020 về việc " Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn " theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2020/QĐXXST - HNGĐ ngày 03/9/2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Vũ Thị L, sinh năm 1981

Địa chỉ: Thôn V, xã My, huyện L, tỉnh Thanh Hóa.

Bị đơn: Anh Nguyễn Phúc H, sinh năm 1983

Địa chỉ: Thôn Tr, xã M, huyện L, tỉnh Thanh Hóa.

Chị L có đơn xin xét xử vắng mặt, anh H vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 19/6/2020, bản tự khai ngày 13/7/2020 của nguyên đơn chị V Thị L thể hiện như sau:

Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Phúc H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, cưới có giấy đăng ký kết hôn tại UBND xã M theo giấy chứng nhận kết hôn ngày 23/02/2007. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 2013 thì thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh H không chăm lo cho cuộc sống gia đình, không tu chí làm ăn và ham chơi bài bạc, nên vợ chồng thường xuyên cải vả, tình cảm vợ chồng ngày càng dạn nứt do đó chị về nhà bố mẹ đẻ ở từ năm 2013 cho đến nay hai người sống ly thân đã được bảy năm không ai quan tâm đến nhau. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn khả năng để hàn gắn đoàn tụ được nữa nên chị đề nghị Toà án nhân dân huyện L xem xét giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Phúc H.

Về con: Chị và anh H có một con chung là Nguyễn Vũ Phương L, sinh ngày 18/10/2009. Hiện nay đang sống cùng với chị L. Nguyện vọng của chị là được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Vũ Phương L không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và công nợ: Chị L xác định vợ chồng không có tài sản chung, không vay nợ ai và không cho ai vay nợ gì nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập anh Nguyễn Phúc H nhiều lần đến Tòa án để giải quyết việc ly hôn nhưng anh H không đến.

Theo đơn yêu cầu của chị L, Tòa án tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân giữa chị L và anh H và sự có mặt của anh H tại nơi cư trú.

Biên bản xác minh ngày 28/7/2020 tại thôn Trần Phú và UBND xã Mỹ Lộc:

Về hôn nhân: Chị La và anh H kết hôn năm 2007, có đăng ký kết hôn tại UBND xã M. Trong quá trình chung sống có xảy ra mâu thuẫn vợ chồng nguyên nhân là do tính tình không hợp, chị L không quan tâm đến anh H dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn và chị L bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở cách đây khoảng 4 đến 5 năm còn anh H bỏ đi làm ăn ở miền nam thi thoảng mới về nên hai người lâu nay sống ly thân. Hiện tại anh H đi làm ăn xa không có mặt ở địa phương, thi thoảng mới về nhà. Anh H không báo cáo tạm vắng, tạm trú với chính quyền địa phương, do đó địa phương không biết địa chỉ của anh H hiện nay ở đâu.

Toà án đã tiến hành lấy lời khai của bà Hoàng Thị S (mẹ đẻ anh H) cho biết: Anh H và chị L tự nguyện đến với nhau, có đăng ký kết hôn. Sau khi cưới vợ chồng chung sống cùng gia đình bà đưược 01 năm thì ăn riêng. Từ khi ăn riêng đến nay vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn cách đây khoảng 4- 5 năm. Nguyên nhân là do anh H ham chơi, chị La lại không quan tâm gì đến anh H nên anh H bỏ đi miền nam làm ăn còn chị L bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở. Việc chị L làm đơn xin ly hôn anh H cũng có thông báo cho gia đình bà và anh H được biết nhưng anh H điện về cho gia đình là không đồng ý ly hôn và mong muốn vợ chồng đoàn tụ nhưng nếu chị L cương quyết ly hôn thì Toà án giải quyết theo đơn của chị L, còn anh H không về và không đến Toà án để giải quyết, do anh H làm nghề tự do, địa chỉ ở đâu anh H không cho gia đình biết mà chỉ điện thoại về cho gia đình, do đó bà không có dịa chỉ để cung cấp cho Toà án, bà sẽ có trách nhiệm nhận và thông báo cho anh H được biết các văn bản tố tụng của Toà án đã giao cho bà, do đó đề nghị Tòa án giải quyết theo đơn của chị L.

Về con: Chị Lài, anh H có 01 con chung là Nguyễn Vũ Phương L, sinh ngày 18/10/2009 đang ở với chị L, mong muốn của gia đình nếu chị L ly hôn thì gia đình và anh H có nguyện vọng được nuôi cháu L. Tài sản chung của L, anh Huynh không có liên quan gì đến gia đình bà.

Tòa án đã tiến hành giao các văn bản tố tụng cho người thân theo đúng quy định của pháp luật. Anh H biết việc chị L làm đơn khởi kiện xin ly hôn đối với anh nhưng anh cố tình trốn tránh, không đến Toà án để làm việc, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án.

Nguyên đơn chị Vũ Thị L có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Phúc H vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đầy đủ, đảm bảo trình tự, thủ tục từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm hội đồng xét xử nghị án, người tham gia tố tụng đã được thực hiện đầy đủ, đảm bảo đúng các quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về hôn nhân: Xử cho chị Vũ Thị L được ly hôn anh Nguyễn Phúc H.

Về con: Giao cháu Nguyễn Vũ Phương L cho chị Vũ Thị L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, chị L không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản và công nợ: Chị Vũ Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Chị Vũ Thị L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền: Chị Vũ Thị L khởi kiện ly hôn anh Nguyễn Phúc H có nơi cư trú tại thôn Tr, xã M, huyện L, tỉnh Thanh Hoá. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ Luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện L.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị L và anh Nguyễn Phúc H kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, được UBND xã M, huyện L cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày ngày 23/02/2007, như vậy hôn nhân giữa chị L và anh H là hôn nhân hợp pháp.

Xét nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị L và anh H: Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc được bảy năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh H không quan tâm, chăm lo đến cuộc sống gia đình, kinh tế gia đình gặp khăn, không chịu tu chí làm ăn nên vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cải vả. Năm 2013 vợ chồng sống ly thân cho đến nay không ai quan tâm đến ai, tình cảm vợ chồng không còn mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị được ly hôn.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án triệu tập anh H đến để tiến hành hòa giải nhưng anh H không có mặt mà không có lý do. Tòa án đã tiến hành giao các văn bản tố tụng cho người thân của anh H theo đúng quy định của pháp luật.

Quá trình giải quyết vụ án anh H không hợp tác làm việc do đó cũng không thể hiện ý chí nguyện vọng của anh H như thế nào, nhưng anh H đã biết nội dung về việc chị L làm đơn ly hôn đối với anh, như vậy cũng có thể xác định anh H cũng không quan tâm đến cuộc hôn nhân này của mình, bỏ mặc không có mong muốn để vợ chồng trở về đoàn tụ thông qua công tác hòa giải tại Tòa án. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2013 đến nay, hai bên không có biện pháp để khắc phục tình trạng hôn nhân hiện nay, chị La nay có nguyện vọng ly hôn. Thấy rằng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị La là phù hợp với tình trạng hôn nhân hiện nay và theo biên bản xác minh tình trạng hôn nhân với Ủy ban nhân dân xã M ngày 28/7/202.

Về con: Chị Vũ Thị L và anh Nguyễn Phúc H có một con chung là Nguyễn Vũ Phương L sinh ngày 18/10/2009. Hiện nay đang sống cùng với chị La. Nguyện vọng của chị là được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Vũ Phương L, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy nguyện vọng của chị Vũ Thị L đề nghị về việc được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Vũ Phương L là hoàn toàn chính đáng. Vì từ khi chị L và anh H sống ly thân đến nay cháu L do chị L chăm sóc, nuôi dưỡng, hơn nữa nguyện vọng của cháu Linh cũng mong muốn ở với mẹ nên HĐXX chấp nhận yêu cầu của chị Vũ Thị L, giao chị Lài trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Vũ Phương L là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật và nguyện vọng của cháu.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Chị L không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng chị, nên HĐXX không xem xét

Về tài sản và công nợ: Vợ chồng không có tài sản chung, không nợ ai và không cho ai vay nợ, không yêu cầu Toà án giải quyết, nên miễn xét.

Về tố tụng: Ngày 15/9/2020, Tòa án nhân dân huyện L đã đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa có mặt chị Vũ Thị L, nhưng anh Nguyễn Phúc H vắng mặt lần thứ nhất không có lí do nên Tòa án đã quyết định hoãn phiên tòa và thông báo đưa vụ án ra xét xử lần thứ hai vào ngày 22/9/2020. Quyết định hoãn phiên toà đã được tống đạt hợp lệ cho người thân là bà Hoàng Thị Sa (mẹ đẻ) anh H được biết, bà Sáu cam đoan giao trực tiếp cho anh H. Tại phiên tòa anh H vẫn tiếp tục vắng mặt lần thứ hai không có lý do, chị Lài có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 BLTTDS Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt của bị đơn anh Nguyễn Phúc H và chị Vũ Thị L.

.Về án phí: Buộc chị Vũ Thị L phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng Dân sự;

Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

* Xử: Vắng mặt chị Vũ Thị L và anh Nguyễn Phúc H.

* Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Vũ Thị L.

Về hôn nhân: Chị Vũ Thị L được ly hôn anh Nguyễn Phúc H.

Về con: Chị Vũ Thị L và anh Nguyễn Phúc H có một con chung là Nguyễn Vũ Phương L, sinh ngày 18/10/2009.

Giao cháu Nguyễn Vũ Phương L cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh H có quyền qua lại thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau khi ly hôn, không ai được cản trở. Nhưng anh H cũng không được lạm dụng quyền thăm nom con để gây ảnh hưởng đến cuộc sống riêng của chị L.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Vũ Thị Lài không yêu cầu anh Nguyễn Phúc Huynh cấp dưỡng nuôi con.

Trường hợp bản án được Thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận Thi hành án, tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7,7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Về án phí: Chị Vũ Thị L phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Lài đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2019/0007988 ngày 22 tháng 6 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện L

Về quyền kháng cáo: Chị Vũ Thị L và anh Nguyễn Phúc H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

Cỡ chữ