- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lệ TCTS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN! HUYỆN!YÊN!PHONG! TỈNH!BẮC!NINH! ! | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 181/2018/HSST Ngày 26/11/2018 |
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!YÊN!PHONG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Ngọc Anh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nghiêm Đình Chế, ông Tô Huy Bân.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Nhung, Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Phong.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong tham gia phiên tòa: Bà Ngô Phương Dung, Kiểm sát viên.
Ngày 26 /11/2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Phong mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 172/2018/HSST, ngày 07/11/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 185/2018/QĐXXST-HS, ngày 12 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo:
Lê!Trọng!Lệ,!sinh!năm!1995.!
Trú tại: Xóm Mồn, xã Nghĩa Lạc, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An; trình độ văn hoá: 6/12; nghề nghiệp: Tự do; dân tộc: Thổ; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Trọng Thủy (đã chết) và bà Lô Thị Duyên, sinh năm 1950; gia đình có 11 anh em, bị cáo là thứ 10; chưa có vợ.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 28/02/2012 bị Ủy ban nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An đưa vào Trường giáo dưỡng số 2, thời hạn 02 năm. Ngày 01/10/2013, chấp hành xong trở về địa phương.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/9/2018 đến nay (có mặt tại phiên toà).
Người bị hại: Anh Nguyễn Văn Thiệp, sinh năm 1990.
Trú tại: Yên Lãng, Yên Trung, Yên Phong, Bắc Ninh (vắng mặt).
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN!
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Lê Trọng Lệ là đối tượng lang thang, không có công ăn việc làm. Đầu tháng 9/2018, Lệ đến thuê trọ tại thôn Yên Lãng, xã Yên Trung, huyện Yên Phong cùng anh Phạm Văn Tiến, sinh năm 1999 ở thôn 11, Nam Tiến 2, xã Xương Lâm, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang để tìm việc làm. Đến đêm ngày 21/09/2018, do vẫn chưa tìm được việc làm, lại hết tiền, giữa Lê Trọng Lệ và anh Phạm Văn Tiến xảy ra cãi nhau nên Lệ bỏ đi lang thang và không về phòng trọ ngủ. Quá trình đi lang thang trong thôn Yên Lãng, Lê Trọng Lệ nảy sinh ý định xem ai để tài sản sơ hở sẽ trộm cắp bán lấy tiền tiêu sài. Đến khoảng 23 giờ 30 ngày 21/09/2018 Lệ đi đến ki-ốt bán thuốc của anh Nguyễn Văn Thiệp, sinh năm 1990 và vợ là chị Bùi Thị Quỳnh, sinh năm 1991 ở thôn Yên Lãng, xã Yên Trung, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh phát hiện cửa phía sau ki ốt của anh Thiệp khép hờ, không đóng. Lệ ngồi ngoài đường đợi đến 01 giờ 30 ngày 22/09/2018 để vợ chồng anh Thiệp ngủ say rồi đi đến trước cửa phòng, cởi giầy để tránh gây tiếng động rồi đi vào trong phòng. Khi vào trong phòng Lệ thấy không bật đèn nhưng có ánh đèn đường từ ngoài chiếu vào nên vẫn có thể nhìn thấy rõ bên trong. Lệ quan sát thấy vợ chồng anh Thiệp đang nằm ngủ trên đệm kê trên nền nhà, phía dưới chân đệm có để chiếc điện thoại Samsung Galaxy S9 Plus màu đen có đèn báo nhấp nháy màu xanh. Lệ đi đến vị trí để chiếc điện thoại Samsung S9 Plus, dùng tay phải lấy chiếc điện thoại cho vào túi quần phía trước, bên phải đang mặc. Lệ tiếp tục đi đến vị trí tủ đựng thuốc ở trong phòng thấy dưới chân tủ đựng thuốc để một hòm tôn nhỏ không khóa, loại thường dùng để đựng tiền bán hàng. Lệ liền mở hòm tôn ra thấy bên trong có nhiều tiền, nhiều loại mệnh giá từ 1.000đ đến 50.000đ được xếp gọn gàng, Lệ dùng cả hai tay vơ toàn bộ số tiền trong hòm tôn cho vào túi quần phía trước bên trái. Lệ đi ra phía cửa, đến vị trí tủ nhựa để quần áo lấy 01 tờ tiền polime mệnh giá 500.000đ để trên mặt tủ đút vào túi quần bên trái. Khi Lệ đi ra đến cửa phòng thì thấy có hai chiếc ba lô của vợ chồng anh Thiệp để ở cửa nên Lệ cầm hai chiếc ba lô này ra ngoài lục tìm tài sản nhưng không có tài sản gì nên Lệ để lại và bỏ đi. Sau đó, Lệ đi vào một nhà nghỉ ở thôn Ấp Đồn, xã Yên Trung, huyện Yên Phong thuê phòng nghỉ. Khi lên phòng, Lệ bỏ tiền trộm cắp được của vợ chồng anh Thiệp ra đếm thì được tổng số 1.800.000đ, Lệ trả tiền nhà nghỉ và tiêu sài hết 1.120.000đ.
Chiều ngày 22/09/2018 nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của mình là vi phạm pháp luật nên Lệ đã đến Công an huyện Yên Phong đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình và giao nộp:
- 01 điện thoại Sam Sung Galaxy S9 Plus màu đen, bên trong số gắn sim số 0988.482.832.
- 01 điện thoại Nokia 3310.
- 01 ví da màu nâu bên trong có 680.000đ là số tiền trộm cắp còn lại.
Chiếc điện thoại do Lệ chiếm đoạt của anh Thiệp là điện thoại Sam Sung S9 Plus màu đen đã được Hội đồng định giá xác định giá trị còn lại là 13.000.000đ.
Bản cáo trạng số: 167/CT-VKSYP, ngày 07/11/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong truy tố Lê Trọng Lệ về tội “trộm cắp tài sản”, theo khoản 1, điều 173 của Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong giữ quyền công tố trước phiên toà sau khi phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân bị cáo, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố Lê Trọng Lệ về tội “trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, điều 173; điều 65; điểm b, i, s, khoản 1, 2 điều 51; điều 48 Bộ luật hình sự; điều 589 Bộ luật dân sự; điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử phạt Lệ từ 06 đến 08 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 16 tháng.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn Thiệp số tiền 1.120.000đ.
Trả lại cho bị cáo 01 ví da màu nâu; 01 chiếc điện thoại Nokia 3310, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Công an huyện Yên Phong, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo không có khiếu nại gì. Do vậy các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng trên đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, vật chứng đã thu hồi được và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 01h30’, ngày 22/9/2018 Lê Trọng Lệ đã có hành vi lén lút, bí mật chiếm đoạt một chiếc điện thoại Sam Sung S9 Plus màu đen trị giá 13.000.000đ và số tiền 1.800.000đ, tổng giá trị tài sản là 14.800.000đ của anh Nguyễn Văn Thiệp đem bán lấy tiền ăn tiêu. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “trộm cắp tài sản”, phạm vào khoản 1, điều 173 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong đã truy tố là đúng người, đúng tội.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, rất táo bạo và liều lĩnh, đã gây mất trật tự trị an trên địa bàn huyện Yên Phong, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, dư luận xã hội đòi hỏi phải xử lý nghiêm.
[3] Xét về nhân thân bị cáo thì thấy: Bị cáo có nhân thân xấu. Ngày 28/02/2012 bị UBND huyện Nghĩa Đàn áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng thời hạn 24 tháng về hành vi gây rối trật tự cộng cộng và cố ý gây thương tích. Ngày 01/10/2013 chấp hành xong. Bị cáo là đối tượng lang thang, không chịu làm ăn chân chính mà lại phạm tội. Bởi vậy, cần phải có một hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Xét thấy, sau khi phạm tội đã đến Công an đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi của mình. Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã tự nguyện giao nộp số tài sản do bị cáo đã chiếm đoạt để trả lại người bi hại, bị cáo là dân tộc thiểu số, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, i, s, khoản 1, 2 điều 51 Bộ luật hình sự, do vậy cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần khi quyết định hình phạt.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc điện thoại Sam Sung S9 Plus cùng sim điện thoại và số tiền 680.000đ cho anh Thiệp. Đối với số tiền 1.120.000đ anh Thiệp yêu cầu bị cáo phải bồi thường, cần buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Thiệp số tiền 1.120.000đ.
[5] Về vật chứng: Cơ quan điều tra có thu giữ của bị cáo 01 chiếc điện thoại Nokia 3310 và 01 ví da màu nâu. Xét thấy đây là tài sản hợp pháp của bị cáo, cần trả lại cho bị cáo, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT!ĐỊNH!
Tuyên bố bị cáo Lê Trọng Lệ phạm tội “trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1, điều 173; điều 38; điểm b, i, s, khoản 1, 2 điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a, b khoản 3, điều 106; điều 136; khoản 1, 3 điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội qui định về án phí, lệ phí Toà án.
Xử phạt: Lê Trọng Lệ 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/9/2018. Tạm giam bị cáo 45 ngày, kể từ ngày 26/11/2018 để đảm bảo thi hành án.
Áp dụng khoản 1, điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015; điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015:
Buộc bị cáo Lê Trọng Lệ phải có trách nhiệm bồi thường cho anh Nguyễn Văn Thiệp số tiền 1.120.000đ.
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, hàng tháng bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với số tiền chưa thi hành án theo quy định tại điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2, Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30, Luật thi hành án dân sự.
Trả lại cho bị cáo 01 ví da màu nâu; 01 chiếc điện thoại Nokia 3310, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 200.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được kết quả bản án. Nơi!nhận:
T.M!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM!
- TAND tỉnh Bắc Ninh.
Thẩm!phán!-!Chủ!toạ!phiên!toà!
- VKSND h. Yên Phong.
- VKS tỉnh Bắc Ninh.
- THADS h. Yên Phong.
- Người tham gia tố tụng.
- Lưu.
!
!!!!! !!!!!Trần!Ngọc!Anh! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! !