vanban.org

Bản án 181/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Tình được ly hôn anh Lê Tiến.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Tình phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm ly hôn, trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2017/0002645 ngày 29 tháng 5 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoằng Hóa. Chị Tình đã thi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tình và Bị đơn anh Lê Tiến"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Tình được ly hôn anh Lê Tiến.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HOẰNG HÓA
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 181/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 29/6/2018
V/v: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Phương

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Xuân Thư

2. Bà Đỗ Thị Vân

-Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Vân - Thư ký Tòa án Tòa án ND huyện Hoằng Hóa

- Đại diện Viện kiểm sát ND huyện Hoằng Hóa tham gia phiên toà:

Bà Lê Thị Trang - KSV

Ngày 29 tháng 6 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 163/2018/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2018 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2018/QĐXX-ST ngày 14 tháng 6 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Tình, sinh năm 1986

Địa chỉ: Thôn Hôm, xã Đào Viên, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.

2. Bị đơn: Anh Lê Tiến, sinh năm 1986

Quê quán: Thôn S, xã Hoằng Ph, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

Trú quán: Thôn 2, xã Hoằng Đông, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

Tại phiên tòa có mặt nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tình, vắng mặt bị đơn anh Lê Tiến không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 18/5/2018, bản tự khai ngày 04/6/2018 và lời khai tại phiên tòa của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tình thể hiện:

Tôi (Tình) và anh Lê Tiến tự nguyện kết hôn với nhau, được UBND xã Hoằng Ph, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 10 tháng 12 năm 2007. Vợ chồng tôi sống hòa thuận với nhau đến tháng 4/2008 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm anh Tiến đã bỏ về quê trong Thanh Hóa ở tôi đã vào tìm anh Tiến nhưng anh tránh mặt tôi. Từ tháng 4/2008 vợ chồng sống ly thân, không ai quan tâm đến ai. Nay tôi nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị tòa án giải quyết cho tôi xin được ly hôn với anh Tiến. Do tình cảm của tôi đối với anh Tiến không còn, vợ chồng không thể đoàn tụ được nên tôi đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải.

Về con: Chị Nguyễn Thị Tình và anh Lê Tiến chưa có con chung.

Về tài sản và công nợ: Tôi không yêu cầu giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh Lê Tiến đến để giải quyết vụ án, nhưng anh Tiến vẫn không có mặt, chỉ đưa ra ý kiến là xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên anh đồng ý ly hôn. Theo lời khai của bà Lê Thị Hoãn (là mẹ đẻ của anh Tiến) thể hiện: Con trai tôi bận đi làm tối mới về. Việc chị Tình xin ly hôn anh Tiến và chúng tôi đã biết, anh Tiến nhờ tôi nhận mọi giấy tờ của Tòa án và thông báo lại nội dung cho anh. Chị Tình và anh Tiến tự nguyện kết hôn với nhau, được xã Hoằng Ph cấp giấy chứng nhận kết hôn năm 2007. Sau khi cưới vợ chồng sống với nhau khoảng 03 tháng ngoài Bắc Ninh. Sau đó chị Tình đã về trong Thanh Hóa ở được bốn ngày thì chị nhảy qua tường và bỏ về nhà mẹ đẻ ở cho đến nay không liên lạc, vợ chồng sống ly thân không quan tâm đến nhau. Nay chị Tình đề nghị ly hôn thì Tiến cho tôi biết là tình cảm vợ chồng không còn nên đồng ý ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết.

Về con chung: Anh Lê Tiến và chị Nguyễn Thị Tình chưa có con chung.

Về tài sản: Không đề nghị Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về quá trình tố tụng và đề xuất hướng giải quyết vụ án: Tòa án và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ thủ tục tố tụng theo luật định. Về hôn nhân: Chị Tình và anh Tiến kết hôn năm 2007. Vợ chồng sống với nhau được khoảng 3 tháng thì vợ chồng sống ly thân cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay chị Tình có nguyện vọng xin ly hôn anh Tiến. Đại diện VKS nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn. Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết cho chị Nguyễn Thị Tình được ly hôn với anh Lê Tiến. Về con chung: Chị Tình và anh Tiến chưa có con chung; Về tài sản không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tình không có sự thay đổi, bổ sung, rút toàn bộ về yêu cầu khởi kiện, các bên đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

{1}Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Tình và anh Lê Tiến kết hôn với nhau vào năm 2007 trên cơ sở tự nguyện, do Ủy ban nhân dân xã Hoằng Ph, huyện Hoằng Hóa cấp giấy chứng nhận kết hôn theo đúng quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân gia đình, là hôn nhân hợp pháp.

Vợ chồng anh chị sống với nhau chỉ hòa thuận một thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn, không thể hòa giải nổi, vợ chồng sống ly thân đã lâu không liên lạc quan tâm gì đến nhau thể hiện tình cảm anh chị thực sự không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần áp dụng Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Tình là phù hợp với tình trạng hôn nhân hiện nay của anh chị.

{2}Về con: Chị Nguyễn Thị Tình và anh Lê Tiến chưa có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

{3}Về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

{4}Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị Tình làm đơn đề nghị ly hôn đến Tòa án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ đầy đủ các văn bản tố tụng cho anh Tiến, anh biết việc chị Tình xin ly hôn và anh đưa ý kiến là đồng ý ly hôn. Tại phiên tòa ngày 21/6/2018, do anh Tiến vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử đã quyết định hoãn phiên tòa theo quy định tại khoản 1 Điều 227, Điều 233 và 235 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nay căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiếp tục đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh Lê Tiến là đúng quy định của pháp luật.

{5}Về án phí: Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Tình phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51,56,57 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 4 Điều 147, Điều 271, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử:

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Tình được ly hôn anh Lê Tiến.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Tình phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm ly hôn, trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2017/0002645 ngày 29 tháng 5 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoằng Hóa. Chị Tình đã thi hành xong.

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tình có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị đơn anh Lê Tiến có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày giao nhận hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ