vanban.org

Bản án 181/2018/HCPT — Hành chính

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 26/10/2018 Hành chính Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/10/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ : Khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính năm 2015.

[2] Tuyên xử: Bác kháng cáo của vợ chồng ông Lê Văn B, bà Đỗ Thị M và giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm hành chính số: 01/2018/HC-ST ngày 19/06/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên. [2.1] Giữ nguyên: Thông báo số 1068/TB-UBND ngày 31/12/2015 của UBND thành phố T về việc ―Thu hồi đất, điều tr… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm Bản án 01/2018/HC-ST Tuyên án 19/06/2018
Phúc thẩm — đang xem Bản án 181/2018/HCPT Tuyên án 26/10/2018

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Khiếu kiện quyết định hành chính thu hồi, bồi thường hỗ trợ đất đai"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ : Khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính năm 2015.
  • Căn cứ chính? Điều 12 Luật Đất đai; Điều 241 Luật tố tụng hành chính; Điều 34 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 181/2018/HCPT
Ngày: 26/10/2018
V/v: “Khiếu kiện quyết định thu
hồi, bồi thường đất đai”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

-

–

Ông Phạm Tồn

Ông Nguyễn Cường

Ông Nguyễn Tấn Long

- T

Bà Hoàng Hải An

-

Ông Lê Phước Thạnh

Ngày 26 tháng 10 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 197/2018/TLPT-HC ngày 02/8/2018 về ―Khiếu kiện quyết định hành chính thu hồi, bồi thường hỗ trợ đất đai”.

Do Bản án hành chính sơ thẩm số 01/2018/HC-ST ngày 19/6/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 197/2018/QĐ-PT ngày 18 tháng 9 năm 2018, giữa các đương sự:

* Người khởi kiện: Vợ chồng ông Lê Văn B - sinh năm 1950, bà Đỗ Thị M - sinh năm 1958; Địa chỉ: , tỉnh Phú Yên.

Người bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người khởi kiện: ông Lê Văn D, sinh năm 1976, luật sư Văn Phòng Luật Sư D thuộc đoàn luật sư tỉnh Phú Yên - địa chỉ: tỉnh Phú Yên.

* Người bị kiện:

- Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Yên; Địa chỉ: tỉnh Phú Yên.

Người đại diện theo pháp luật: ông Hoàng Văn T - Chủ tịch UBND tỉnh Phú Yên.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của UBND tỉnh Phú Yên: Ông Mai Kim L - Phó giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Phú Yên và ông Ngô Quang P - Phó giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Phú Yên.

- Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Phú Yên.

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Phú Yên.

Địa chỉ: thành phố T, tỉnh Phú Yên.

Người đại diện theo pháp luật của UBND thành phố T và Chủ tịch UBND thành phố T: Ông Võ Ngọc K - Chủ tịch UBND thành phố T.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Phú Yên; Địa chỉ: huyện T, tỉnh Phú Yên.

Người đại diện theo ủy quyền của UBND huyện T: ông Phạm Ngọc T - Phó Chủ tịch UBND huyện T.

2. Ủy ban nhân dân xã A, thành phố T, tỉnh Phú Yên; Địa chỉ: xã A, thành phố T, tỉnh Phú Yên.

Người đại diện theo ủy quyền của UBND xã A: Ông Nguyễn Đức T - Công chức Địa chính - Nông nghiệp - Xây dựng và Môi trường.

3. Ban quản lý các dự án đầu tư xây dựng các công trình dân dụng và công nghiệp tỉnh Phú Yên (nay là Ban Quản lý các dự án đầu tư xây dựng tỉnh Phú Yên); Địa chỉ: thành phố T, tỉnh Phú Yên.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Cao Đình H - Giám đốc Ban quản lý các dự án đầu tư xây dựng tỉnh Phú Yên.

4. Công ty TNHH đo đạc T; Địa chỉ: thành phố T, tỉnh Phú Yên.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Võ Thị Kim Y — Giám đốc Công ty TNHH đo đạc T.

5. Bệnh viện phục hồi chức năng tỉnh Phú Yên; Địa chỉ: xã A, thành phố T, tỉnh Phú Yên.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Văn H – Cán bộ Phòng Tổ chức hành chính Bệnh viện phục hồi chức năng tỉnh Phú Yên.

6. Vợ chồng ông Lê Thành T - sinh năm 1957, bà Lê Thị H - sinh năm 1959; Địa chỉ: thành phố T, tỉnh Phú Yên.

7. Bà Lê Thị Kim H1 - sinh năm 1959; Địa chỉ: xã A, thành phố T, tỉnh Phú Yên.

8. Vợ chồng bà Lê Thị Kim Q, sinh năm 1961 và ông Nguyễn Phụng T1, sinh năm 1961; Địa chỉ: huyện T, tỉnh Phú Yên.

9. Vợ chồng ông Lê Phước S - sinh năm 1970, bà Nguyễn Thị D - sinh năm 1962; Địa chỉ: Thôn XD, xã A, thành phố T, tỉnh Phú Yên.

Người đại diện theo ủy quyền của ông T, bà H, bà H1, bà Q, ông T1, ông S, bà D: Ông Lê Văn B - sinh năm 1954.

10. Ông Trình Văn N - sinh năm 1947; Địa chỉ: thành phố T, tỉnh Phú Yên.

11. Ông Trần Công U - sinh năm 1954, Địa chỉ: thành phố T, tỉnh Phú Yên.

12. Ông Trần N - sinh năm 1959; Địa chỉ: thành phố T, tỉnh Phú Yên.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện trình bày:

Nguyên diện tích 631,9m2 tại thửa đất số 964 theo bản đồ đo đạc giải phóng mặt bằng do công ty TNHH T lập có nguồn gốc là đất hoang, có nhiều mồ mả, sau đó ông Lê M (cha của ông Lê Văn B) khai hoang để trồng bạch đàn thể hiện tại giấy viết tay ―giấy báo cáo‖ đề ngày 26/12/2003 và ―giấy xác minh đất ranh giới của ông Lê M‖ đề ngày 25/12/2003 được Uỷ ban nhân dân xã A ký xác nhận. Ông Lê M để lại diện tích nêu trên cho anh em ông Lê Văn B theo văn bản phân chia thừa kế đề ngày 10/9/2003 (được UBND xã A xác nhận ngày 27/10/2003).

Năm 2016, Uỷ ban nhân dân thành phố T thu hồi diện tích 239,3m2 nằm trong tổng diện tích 631,9m2 nêu trên của gia đình ông B để thực hiện dự án Bệnh viện phục hồi chức năng tỉnh Phú Yên, công trình xây dựng khoa chống nhiễm khuẩn, xưởng sản xuất dụng cụ chỉnh hình và đoạn tường rào khu đất mở rộng bệnh viện nhưng UBND thành phố T không bồi thường về đất cho vợ chồng ông B, bà M mà chỉ bồi thường, hỗ trợ đối với tài sản trên đất.

Ngày 25/12/2016, ông Lê Văn B có gửi đơn khiếu nại đến UBND thành phố T đề nghị Chủ tịch UBND thành phố T xem xét giải quyết chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ đối với diện tích đất 239,3m2 nêu trên. Ngày 09/5/2017 Chủ tịch UBND thành phố T ban hành Quyết định số 1805/QĐ-UBND giải quyết khiếu nại của tôi với nội dung không công nhận yêu cầu khiếu nại của tôi đối với việc bồi thường 239,3m2 đất.

Do không đồng ý đối với kết quả giải quyết nêu trên của Chủ tịch UBND thành phố Hòa nên vợ chồng ông B, bà M làm đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung và tại phiên tòa yêu cầu Tòa án:

Hủy Thông báo số 1068/TB-UBND ngày 31/12/2015 của UBND thành phố T về việc ―Thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm để thực hiện dự án: Sửa chữa, nâng cấp Bệnh viện phục hồi chức năng tỉnh Phú Yên tại thành phố T‖; Quyết định 5608/QĐ-UBND ngày 10/10/2016 của UBND thành phố T ―Về việc thu hồi đất để thực hiện Công trình: Xây dựng khoa chống nhiễm khuẩn, xưởng sản xuất dụng cụ chỉnh hình và đoạn tường rào khu đất mở rộng của Bệnh viện phục hồi chức năng tỉnh – Dự án: Sửa chữa, nâng cấp Bệnh viện phục hồi chức năng tỉnh Phú Yên tại thành phố T‖ (do UBND tỉnh Phú Yên ủy quyền cho UBND thành phố T thu hồi đất theo Quyết định số 1155/QĐ-UBND ngày 23/7/2014 của UBND tỉnh Phú Yên); Quyết định số 5616/QĐ-UBND ngày 10/10/2016 của UBND thành phố T, tỉnh Phú Yên ―V/v phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư để thực hiện Công trình: Xây dựng khoa chống nhiễm khuẩn, xưởng sản xuất dụng cụ chỉnh hình và đoạn tường rào khu đất mở rộng của Bệnh viện phục hồi chức năng tỉnh – Dự án: Sửa chữa, nâng cấp Bệnh viện phục hồi chức năng tỉnh Phú Yên tại thành phố T‖; Quyết định số 1805/QĐ-UBND ngày 09/5/2017 của Chủ tịch UBND thành phố T ―V/v Giải quyết đơn khiếu nại của ông Lê Văn B (lần đầu)‖; Quyết định số 5624/QĐ-UBND ngày 11/10/2016 của UBND thành phố T, tỉnh Phú Yên ―V/v Chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ đối với hộ: Lê Văn B để thực hiện Công trình: Xây dựng khoa chống nhiễm khuẩn, xưởng sản xuất dụng cụ chỉnh hình và đoạn tường rào khu đất mở rộng của Bệnh viện phục hồi chức năng tỉnh – Dự án: Sửa chữa, nâng cấp Bênh viện phục hồi chức năng tỉnh Phú Yên tại thành phố T‖; Buộc UBND thành phố T, tỉnh Phú Yên lập phương án thu hồi, bồi thường, hỗ trợ về đất đối với diện tích 239,3m2 bị ảnh hưởng thu hồi của dự án sửa chữa nâng cấp Bệnh viện phục hồi chức năng tỉnh Phú Yên tại thành phố T, tỉnh Phú Yên.

Người bị kiện Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Yên trình bày: Uỷ ban nhân dân tỉnh Phú Yên ban hành Quyết định số 1155/QĐ-UBND ngày 23/7/2014 ủy quyền cho UBND thành phố T ban hành Quyết định 5608/QĐ-UBND ngày 10/10/2016 của UBND thành phố T ―Về việc thu hồi đất để thực hiện Công trình: Xây dựng khoa chống nhiễm khuẩn, xưởng sản xuất dụng cụ chỉnh hình và đoạn tường rào khu đất mở rộng của Bệnh viện phục hồi chức năng tỉnh – Dự án: Sửa chữa, nâng cấp Bệnh viện phục hồi chức năng tỉnh Phú Yên tại thành phố T‖ là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 66 Luật đất đai. Việc UBND thành phố T thu hồi đất là đúng quy định của pháp luật nên không chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông B, bà M.

Người bị kiện UBND thành phố T; Chủ tịch UBND thành phố T trình bày:

Theo bản đồ giải thửa đo đạc năm 1992, sổ mục kê ruộng đất lập năm 1993, bản đồ đo đạc địa chính năm 1997 và sổ mục kê đất lập năm 1998, thửa đất 964 diện tích trúng giải tỏa 239,3m2 mảnh trích đo chỉnh lý địa chính số 02-2016 mà ông B đang khiếu nại yêu cầu bồi thường về đất thuộc loại đất nghĩa địa do UBND xã A quản lý.

Căn cứ khoản 2 Điều 82 Luật đất đai năm 2013, quy định ―Nhà nước thu hồi đất không bồi thường về đất trong các trường hợp sau đây: Đất được nhà nước giao để quản lý‖.

Căn cứ Khoản 2 Điều 7 Luật đất đai 2013, quy định: ―Người chịu trách nhiệm trước Nhà nước đối với việc sử dụng đất: Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn đối với việc sử dụng đất nông nghiệp đã giao cho Ủy ban nhân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp xã) để sử dụng vào mục đích xây dựng trụ sở Ủy ban nhân dân, các công trình công cộng phục vụ hoạt động văn hóa, giáo dục, y tế, thể dục thể thao, vui chơi, giải trí, chợ, nghĩa trang, nghĩa địa và công trình công cộng khác của địa phương‖.

Như vậy, thực hiện công trình: Xây dựng khoa chống nhiễm khuẩn, xưởng sản xuất dụng cụ chỉnh hình và đoạn tường rào khu đất mở rộng của Bệnh viện phục hồi chức năng tỉnh – dự án Sửa chữa, nâng cấp Bệnh viện phục hồi chức năng tỉnh Phú Yên tại thành phố T, ông Lê Văn B không phải là đối tượng bị thu hồi đất thửa đất 964, vì vợ chồng ông B chiếm, sử dụng loại đất nghĩa trang do UBND xã A quản lý. Căn cứ các quy định nêu trên, việc ông B khiếu nại yêu cầu bồi thường thửa đất 964 là không có cơ sở để xem xét.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Phú Yên trình bày: Năm 2004 trở về trước xã A thuộc huyện T, tỉnh Phú Yên, đến năm 2005 xã A được sáp nhập vào địa giới thành phố T ( theo Nghị định số 03/2005/NĐ-CP ngày 05/01/2005 của Chính phủ). Năm 1998 Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê M (cha ông Lê Văn B) là đúng quy định pháp luật đất đai tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Diện tích cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không thuộc thửa đất vợ chồng ông B, bà M đang khiếu kiện.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bệnh viện phục hồi chức năng tỉnh Phú Yên trình bày: Bệnh viện chỉ là đơn vị được sử dụng sau khi công trình xây dựng hoàn thành, vì vậy trong quá trình thực hiện dự án trách nhiệm thuộc về các đơn vị chức năng và chủ đầu tư. Do đó, Bệnh viện không có ý kiến và không có yêu cầu độc lập.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình dân dụng và công nghiệp tỉnh Phú Yên trình bày: Thống nhất với ý kiến trình bày của UBND thành phố T.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan công ty TNHH đo đạc T trình bày: Việc đo đạc của công ty là đúng quy định của pháp luật. Do đó công ty không có ý kiến và không có yêu cầu độc lập.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông T, bà H, bà H1, bà Q, ông T1, ông S, bà D (do ông Lê Văn B) đại diện theo ủy quyền trình bày: Thống nhất với ý kiến trình bày của người khởi kiện.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Trịnh Văn Nam, ông Trần Công U và ông Trần N: Nguyên diện tích gia đình ông Lê Văn B đang khiếu kiện trước kia là đất hoang người dân địa phương sử dụng chôn cất và có nhiều mồ mả, sau đó ông Lê M có trồng bạch đàn trên diện tích nêu trên.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện trình bày: Diện tích 239,3m2 của vợ chồng ông B, bà M có nguồn gốc là do ông Lê M (cha của ông B) khai hoang và sử dụng từ năm 1986 đến nay đã được UBND xã A ký xác nhận. Trong quá trình sử dụng thì các cơ quan có thẩm quyền không lập biên bản hay xử phạt vi phạm hành chính gì đối với ông Lê M và vợ chồng ông Lê Văn B. Do đó, theo các quy định của Luật đất đai thì diện tích 239,3m2 nêu trên thuộc quyền sử dụng của vợ chồng ông Lê Văn B, bà Đỗ Thị M nên khi nhà nước thu hồi thì phải bồi thường, hỗ trợ theo đúng quy định của pháp luật.

Tại bản án hành chính sơ thẩm số 01/2018/HC-ST ngày 19/6/2018, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên đã quyết định:

Áp dụng Điều 30, Điều 32 Luật tố tụng hành chính, điểm a, khoản 2 Điều 193 và khoản 1, Điều 358 Luật tố tụng hành chính; điểm đ khoản 1, Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Áp dụng khoản 1 Điều 12 Luật đất đai; khoản 3, Điều 66 và khoản 2 Điều 82 Luật đất đai.

Tuyên xử: Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông Lê Văn B, bà Đỗ Thị M về việc: Hủy Thông báo số 1068/TB-UBND ngày 31/12/2015 của UBND thành phố T về việc ―Thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm để thực hiện dự án: Sửa chữa, nâng cấp Bệnh viện phục hồi chức năng tỉnh Phú Yên tại thành phố T‖; Quyết định 5608/QĐ-UBND ngày 10/10/2016 của UBND thành phố T ―Về việc thu hồi đất để thực hiện Công trình: Xây dựng khoa chống nhiễm khuẩn, xưởng sản xuất dụng cụ chỉnh hình và đoạn tường rào khu đất mở rộng của Bệnh viện phục hồi chức năng tỉnh – Dự án: Sửa chữa, nâng cấp Bệnh viện phục hồi chức năng tỉnh Phú Yên tại thành phố T‖ (do UBND tỉnh Phú Yên ủy quyền cho UBND thành phố T thu hồi đất theo Quyết định số 1155/QĐ-UBND ngày 23/7/2014 của UBND tỉnh Phú Yên); Quyết định số 5616/QĐ-UBND ngày 10/10/2016 của UBND thành phố T, tỉnh Phú Yên ―V/v phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư để thực hiện Công trình: Xây dựng khoa chống nhiễm khuẩn, xưởng sản xuất dụng cụ chỉnh hình và đoạn tường rào khu đất mở rộng của Bệnh viện phục hồi chức năng tỉnh – Dự án: Sửa chữa, nâng cấp Bệnh viện phục hồi chức năng tỉnh Phú Yên tại thành phố T‖; Quyết định số 1805/QĐ-UBND ngày 09/5/2017 của Chủ tịch UBND thành phố T ―V/v Giải quyết đơn khiếu nại của ông Lê Văn B (lần đầu)‖; Quyết định số 5624/QĐ-UBND ngày 11/10/2016 của UBND thành phố T, tỉnh Phú Yên ―V/v Chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ đối với hộ: Lê Văn B để thực hiện Công trình: Xây dựng khoa chống nhiễm khuẩn, xưởng sản xuất dụng cụ chỉnh hình và đoạn tường rào khu đất mở rộng của Bệnh viện phục hồi chức năng tỉnh – Dự án: Sửa chữa, nâng cấp Bênh viện phục hồi chức năng tỉnh Phú Yên tại thành phố T‖; Buộc UBND thành phố T, tỉnh Phú Yên lập phương án thu hồi, bồi thường, hỗ trợ về đất đối với diện tích 239,3m2 bị ảnh hưởng thu hồi của dự án sửa chữa nâng cấp Bệnh viện phục hồi chức năng tỉnh Phú Yên tại thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vì không có căn cứ.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về phần án phí, chi phí thẩm định tại chỗ và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 02/7/2018, người khởi kiện ông Lê Văn B có đơn kháng cáo đối với toàn bộ bản án sơ thẩm số 01/2018/HC-ST ngày 19 tháng 6 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên, yêu cầu xét xử vụ án theo trình tự phúc thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai và kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến trình bày của các bên đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự và ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm xác định Quyết định số 1805/QĐ-UBND Ngày 09/5/2017 Chủ tịch UBND thành phố T

huộc thẩm quyền của tòa án và đơn kháng cáo của Lê Văn B ngày 02/7/2018 trong thời hạn luật định theo Điều 213 Luật Tố tụng Hành Chính.

Về

:

Nguồn gốc, diện tích 239,3m2 thuộc thửa đất 964, tờ bản đồ số 8 (bản đồ giải phóng mặt bằng do công ty TNHH đo đạc T lập): Thì diện tích 239,3m2 thuộc thửa đất 964, tờ bản đồ số 8. Theo bản đồ giải thửa đo đạc năm 1992, Sổ mục kê ruộng đất lập năm 1993, bản đồ đo đạc địa chính năm 1997 và sổ mục kê đất lập năm 1998, thửa đất 964 diện tích giải tỏa 239,3m2 và mảnh trích đo đạc chỉnh lý địa chính số 02-2016 nêu trên, thuộc một phần của thửa 123, 124, 125 phần diện tích 239,3m2 trước đây do ông Lê M (bố đẻ ông Lê Văn B (BL05) nay vợ chồng ông Lê Văn B, bà Đỗ Thị M

thực hiện dự án, ―...Xây dựng khoa chống nhiễm khuẩn, xưởng sản xuất dụng cụ chỉnh hình và đoạn tường rào khu đất mở rộng của Bệnh viện phục hồi chức năng tỉnh – Dự án: Sửa chữa, nâng cấp Bệnh viện phục hồi chức năng tỉnh Phú Yên tại thành phố T‖ theo Quyết định 5608/QĐ-UBND ngày 10/10/2016 của UBND thành phố T.

Đây là đất nghĩa trang do UBND xã A quản lý. Hành vi lấn chiếm nêu trên của ông Lê M (sau này là ông Lê Văn B) thuộc trường hợp nhà nước nghiêm cấm tại khoản 1 Điều 12 Luật đất đai ―lấn, chiếm, hủy hoại đất đai‖ nên khi UBND thành phố T thu hồi diện tích 239,3m2 gia đình ông Lê Văn B đang sử dụng phục vụ lợi ích công cộng là phù hợp.

66 Luật đất đai, việc UBND thành phố T ban hành Quyết định 5616/QĐ-UBND- Ngày 10/10/2016 phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ

ng ông Lê Văn B chỉ được bồi thường hỗ trợ đối với phần cây trồng và tài sản trên đất với số tiền 1.206.898 đồng, không bồi thường về đất là đúng. Người khởi kiện kháng cáo, yêu cầu bồi thường theo khoản 2 Điều 77 luật Đất Đai 2013 là không có căn cứ. Bởi vì, diện tích 239,3m2 đất bị thu hồi là Đất nghĩa trang do UBND xã A quản lý.

diện tích đất này trước kia có rất nhiều mồ mả và được làm Nghĩa trang của địa phương‖ sau đó ông Lê M tự ý lấn chiếm và trồng bạch đàn.

cho rằng, t

Lê M (cha ông) ch

iện tích đất ông Lê M phân chia thừa kế

ngày 10/9/2003 thể hiện; ông Lê M chia cho các con của ông (trong đó có ông Lê Văn B). Đối với diện tích 370m2 thuộc thửa đất số 39, tờ bản đồ số 03, bản đồ đo đạc năm 1992 (đo đạc theo chỉ thị 299/CP) đã được UBND huyện T công nhận và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 677901 cho ông Lê M vào ngày 15/10/1998. Đối chiếu bản đồ địa chính, sổ mục kê, sổ địa chính qua các thời kỳ thể hiện thửa đất số 39, tờ bản đồ số 3, bản đồ đo đạc năm 1992, tương ứng với thửa đất số 130, tờ bản đồ số 8, bản đồ địa chính năm 1997 và không nằm trong diện tích nhà

2 nước thu hồi để thực hiện dự án. Như vậy; ph

thuộc đất nghĩa trang; ông B không nằm trong diện tích

Lê M, hiện ông đang khiếu kiện. (BL 161,268)

Như vậy, Thông báo số 1068/TB-UBND ngày 31/12/2015 của UBND thành phố T và các Quyết định 5608/QĐ-UBND ngày 10/10/2016 của UBND thành phố T (do UBND tỉnh Phú Yên ủy quyền cho UBND thành phố T thu hồi đất theo Quyết định số 1155/QĐ-UBND ngày 23/7/2014 của UBND tỉnh Phú Yên); và Quyết định số 5616/QĐ-UBND ngày 10/10/2016 của UBND thành phố T, tỉnh Phú Yên; Quyết định số 5624/QĐ-UBND ngày 11/10/2016 của UBND thành phố T, tỉnh Phú Yên; Quyết định số 1805/QĐ-UBND ngày 09/5/2017 của Chủ tịch UBND thành phố T liên quan đến quá trình triển khai thực hiện Công trình xây dựng khoa chống nhiễm khuẩn, xưởng sản xuất dụng cụ chỉnh hình và đoạn tường rào khu đất mở rộng của Bệnh viện phục hồi chức năng tỉnh – Dự án sửa chữa, nâng cấp Bệnh viện phục hồi chức năng tỉnh Phú Yên tại thành phố T UBND tỉnh Phú Yên ủy quyền cho UBND thành phố T; UBND thành phố T ban hành quyết định thu hồi và lập phương án bồi thường, hỗ trợ đúng quy định luật đất đai.

Từ những phân tích nêu trên thì thấy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các chứng cứ và các tình tiết khác liên quan đến vụ án là khách quan. Do vậy, không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện cũng như kháng cáo của người khởi kiện, giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của Viện kiểm sát cấp cao tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay.

Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Người khởi kiện phải chịu 500.000 đồng (đã nộp đủ).

Về án phí phúc thẩm: ông Lê Văn B phải chịu theo quy định pháp luật

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

[1] Căn cứ : Khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính năm 2015.

Căn cứ khoản 2 Điều 7, khoản 1,3 Điều 12 và khoản 3, Điều 66 Luật đất đai 2013; khoản 1, Điều 34 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[2] Tuyên xử: Bác kháng cáo của vợ chồng ông Lê Văn B, bà Đỗ Thị M và giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm hành chính số: 01/2018/HC-ST ngày 19/06/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

[2.1] Giữ nguyên: Thông báo số 1068/TB-UBND ngày 31/12/2015 của UBND thành phố T về việc ―Thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm để thực hiện dự án: Sửa chữa, nâng cấp Bệnh viện phục hồi chức năng tỉnh Phú Yên tại thành phố T‖; Quyết định 5608/QĐ-UBND ngày 10/10/2016 của UBND thành phố T ―Về việc thu hồi đất để thực hiện Công trình: Xây dựng khoa chống nhiễm khuẩn, xưởng sản xuất dụng cụ chỉnh hình và đoạn tường rào khu đất mở rộng của Bệnh viện phục hồi chức năng tỉnh - Dự án: Sửa chữa, nâng cấp Bệnh viện phục hồi chức năng tỉnh Phú Yên tại thành phố T‖ (do UBND tỉnh Phú Yên ủy quyền cho UBND thành phố T thu hồi đất theo Quyết định số 1155/QĐ-UBND ngày 23/7/2014 của UBND tỉnh Phú Yên); Quyết định số 5616/QĐ-UBND ngày 10/10/2016 của UBND thành phố T, tỉnh Phú Yên ―V/v phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư để thực hiện Công trình: Xây dựng khoa chống nhiễm khuẩn, xưởng sản xuất dụng cụ chỉnh hình và đoạn tường rào khu đất mở rộng của Bệnh viện phục hồi chức năng tỉnh - Dự án: Sửa chữa, nâng cấp Bệnh viện phục hồi chức năng tỉnh Phú Yên tại thành phố T‖; Quyết định số 1805/QĐ-UBND ngày 09/5/2017 của Chủ tịch UBND thành phố T ―V/v Giải quyết đơn khiếu nại của ông Lê Văn B (lần đầu)‖; Quyết định số 5624/QĐ-UBND ngày 11/10/2016 của UBND thành phố T, tỉnh Phú Yên ―V/v Chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ đối với hộ: Lê Văn B để thực hiện công trình: Xây dựng khoa chống nhiễm khuẩn, xưởng sản xuất dụng cụ chỉnh hình và đoạn tường rào khu đất mở rộng của Bệnh viện phục hồi chức năng tỉnh - Dự án: Sửa chữa, nâng cấp Bệnh viện phục hồi chức năng tỉnh Phú Yên tại thành phố T‖; Buộc UBND thành phố T, tỉnh Phú Yên lập phương án thu hồi, bồi thường, hỗ trợ về đất đối với diện tích 239,3m2 bị ảnh hưởng thu hồi của dự án sửa chữa nâng cấp Bệnh viện phục hồi chức năng tỉnh Phú Yên tại thành phố T, tỉnh Phú Yên.

[3] Về án phí: Người khởi kiện vợ chồng ông Lê Văn B, bà Đỗ Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính sơ thẩm; nhưng được trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0001074 ngày 13/06/2017 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên.

[4] Về án phí Phúc thẩm: ông Lê Văn B, bà Đỗ Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính phúc thẩm; được trừ vào tiền tạm ứng đã nộp 300.000 đồng tại biên lai thu 0008554 ngày 5/7/2018 của Cục Thi hành án tỉnh Phú Yên.

[5] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Người khởi kiện phải chịu 500.000 đồng (đã nộp đủ).

Án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án hôm nay 26/10/2018./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ