- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cà Văn T - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Cà Văn T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý"
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN _________ Bản án số: 181/2017/HSST Ngày 15-8-2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Đặng Thị Thùy Dương
- Các Hội thẩm nhân dân:
Ông: Lò Thanh Hồng
Ông: Lường Văn Hịa
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Yên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Đỗ Thành Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 192/2017/HSST ngày 27 tháng 7 năm 2017 đối với bị cáo:
Họ và tên: Cà Văn T. Sinh năm 1984.
Tại: Điện Biên.
Tên gọi khác: Không
Nơi đăng ký hộ khẩu và chỗ ở: Đội A, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên.
Nghề nghiệp: Làm ruộng.
Trình độ văn hoá: 11/12
Bố đẻ: Cà Văn D; Mẹ đẻ: Vì Thị H
Vợ: Lò Thị Q. Bị cáo có 02 người con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2016.
Tiền án; tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 26/4/2017.
Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Người có nghĩa vụ liên quan: Anh Lò Văn H, sinh năm 1984. Trú tại Đội C xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (vắng mặt không lý do)
NHẬN THẤY:
Bị cáo Cà Văn T bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 05 giờ ngày 24/4/2017, Cà Văn T mang theo 500.000 đồng đi bộ đến khu vực đồi thuộc đội C xã T, huyện Đ tìm mua hêrôin về sử dụng và bán kiếm lời. Khi đến nơi T gặp và mua được 01 gói hêrôin của một người phụ nữ tên E (T không biết họ và địa chỉ) với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được hêrôin T cất gói hêrôin vào túi quần bên phải đang mặc rồi đi về nhà. Khi về đến nhà, T cất gói hêrôin trong bếp. Hồi 14 giờ ngày 26/4/2017 có Lò Văn H nhà ở đội C, xã T, huyện Điện Biên đến nhà T hỏi mua 50.000 đồng hêrôin. T cầm tiền nhưng chưa kịp đưa hêrôin cho H thì bị tổ công tác Đồn Biên phòng Thanh Luông vào nhà kiểm tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ tại túi quần bên phải T đang mặc 01 gói hêrôin và 01 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng.
Tại biên bản mở niêm phong xác định trọng lượng ngày 27/4/2017 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Điện Biên và bản kết luận giám định số: 434/GĐ - PC54 ngày 25/5/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã xác định số vật chứng thu giữ của Cà Văn T có trọng lượng là 1,19 gam là hêrôin.
Tại bản Cáo trạng số 124/QĐ -VKS - HS ngày 26/7/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên đã truy tố bị cáo Cà Văn T về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" theo khoản 1 Điều 194/BLHS.
Tại phiên toà, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội "Mua bán trái phép chất ma túy"; Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 194/BLHS; điểm p khoản 1 Điều 46/BLHS. Xử phạt bị cáo Cà Văn T từ 30 năm đến 36 tháng tù. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 41/BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 76/BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy 1,19 gam hêrôin (đã trích 0,23 gam gửi giám định không hoàn lại). Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 50.000 đồng do bị cáo phạm tội mà có. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng Điều 99/BLTTHS và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận, hoàn toàn nhất trí với bản Cáo trạng và lời luận tội của Kiểm sát viên.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên; bị cáo.
XÉT THẤY:
Qua phần xét hỏi công khai tại phiên toà, bị cáo Cà Văn T đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của Lò Văn H; biên bản bắt người phạm tội quả tang, các bản cung có trong hồ sơ vụ án; kết luận giám định; kết luận điều tra, cũng như vớ i số vật chứng đã thu giữ của bị cáo.
Vì vậy có đủ cơ sở kết luận, ngày 24/4/2017, Bị cáo Cà Văn T đã trực tiếp đi mua hêrôin về với mục đích để sử dụng và bán lại cho người khác kiếm lời, khi bị cáo nhận số tiền 50.000 đồng để bán hêrôin cho Lò Văn H thì bị tổ công tác Đồn Biên phòng Thanh Luông phát hiện bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.
Hành vi tàng trữ 1,19 gam hêrôin mục đích để sử dụng và bán lại cho người khác của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đa trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc̃ quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, xâm phạm tới nền trật tự trị an, an toàn xã hội, làm lan tràn tệ nạn nghiện ma tuý trên địa bàn , đồng thời tiếp tay cho những kẻ chuyên mua bán các chất ma tuý tồn ta ̣i và phát triển.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự trước pháp luật. Tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp.
Từ nhận định trên Hội đồng xét xử xác định, hành vi phạm tội của bị cáo đã đầy đủ yếu tố cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" theo quy đi ̣nh ta ̣i khoản 1 Điều 194/BLHS.
Bản cáo trạng truy tố bị cáo của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đa thành khẩn khai báo nên được áp dụng̃ tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm p khoản 1 Điều 46/BLHS.
Tuy nhiên, bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, tội phạm mà bị cáo thực hiện là loại tội phạm nghiêm trọng do vâ ̣y để bi ̣ cáo có thời gian cải tạo và làm lại cuộc đờ i, sống có ich cho gia đinh và xa hô ̣̃ i thi cần có hình phạt nghiêm khắc cách ly bị
́
̀
̀
cáo ra khỏi xã hội một thời gian.
Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo Khoản 5 Điều 194/BLHS. Xong xét hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, thu nhập chính từ làm ruộng nên không có khả năng thi hành. Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Bị cáo đã khai mua hêrôin của một người tên E bị cáo không biết địa chỉ nên cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra làm rõ được. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Lò Văn H là người mua hêrôin của bị cáo với mục đích để sử dụng, H chưa nhận được hêrôin từ T. Hành vi của Hạnh không cấu thành tội phạm, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Vật chứng gồm 1,19 gam hêrôin (đã trích 0,23 gam gửi giám định không hoàn lại) cần bị tịch thu tiêu huỷ theo điểm a khoản 2 Điều 76/BLTTHS.
Số tiền 50.000 đồng là tiền bị cáo do phạm tội mà có cần ti ̣ch thu sung ngân sách Nhà nước theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 41/BLHS; Điểm c khoản 2 Điều 76/BLTTHS.
Về án phí: Theo quy định tại Điều 99/BLTTHS và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Cà Văn T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý"
- Áp dụng Khoản 1 Điều 194/BLHS; Điểm p Khoản 1 Điều 46/BLHS.
Xử phạt bị cáo Cà Văn T 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 26/4/2017.
2. Căn cứ Điểm b Khoản 1 Điều 41/BLHS; Điểm a, Điểm c Khoản 2 Điều 76/ BLTTHS.
- Tịch thu tiêu huỷ 1,19 gam hêrôin (đã trích 0,23 gam gửi giám định không hoàn lại)
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 50.000 đồng là tiền bị cáo do phạm tội mà có.
(Vật chứng đã được Công an huyện Điện Biên bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên theo biên bản bàn giao vật chứng giữa Công an huyện Điện Biên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên ngày 08/8/2017).
3. Án phí: Căn cứ Điều 99/BLTTHS và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Cà Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (15/8/2017).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh; - VKSND; - Phòng HSNV CA tỉnh Điện Biên; - Công an; - Nhà tạm giữ; - Bị cáo; - Chi cục T.H.A Dân sự; - Sở Tư pháp; - T.H.A HS; - Lưu. | THẨMTHẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đặng Thị Thùy Dƣơng |