vanban.org

Bản án 180/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về ngoại tình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về ngoại tình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyen Thi Thuy"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂNDÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 180/2024/HNGĐ-ST
Ngày 19-6-2024
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm, gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Tâm Nhân.

Các Hội thẩm nhân dân:

ông Nguyễn Thanh Liêm;

bà Phạm Xuân Đào.

- Thư ký phiên tòa: ông Quách Thuận An - Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Chợ Mới.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới tham gia phiên tòa:

ông Nguyễn Phước Lợi - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét

xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 239/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 4

năm 2024 về “ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số:

273/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1981; nơi cư trú: số 13, tổ 20,

ấp Tr, xã M, huyện C, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: ông Trần Minh Th1, sinh năm 1981; nơi cư trú: ấp Đ, xã M,

huyện C, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 29/3/2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ

án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Th trình bày: bà Th chung sống với ông Th1 có

đăng ký và được Ủy ban nhân dân xã M cấp chứng nhận kết hôn theo giấy

chứng nhận kết hôn số 159, quyển số 01/2011 ngày đăng ký 08/9/2011. Quá

trình chung sống, vợ chồng có 03 con chung: Trần Huyền Tr, sinh ngày

24/6/2011, Trần Thị Huyền M, sinh ngày 11/5/2013, Trần Văn Đ, sinh ngày

11/3/2015.

Sau khi kết hôn với nhau, vợ chồng sinh sống ở nhà ông Th1 tại ấp Đ, xã

M, huyện C, tỉnh An Giang. Sau đó, ông Th1 thường xuyên đi làm ở xa. Khoảng

năm 2020, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do ông Th1 có người phụ nữ khác và xua đuổi bà Th ra khỏi nhà nên bà Th về nhà mẹ ruội ở. Ông Th1 có năn nỉ nên bà Th trở lại sống chung với ông Th1. Khoảng năm 2021, giữa bà Th và mẹ ông Th1 xảy ra xích mích rồi bị mẹ ông Th1 đuổi ra khỏi nhà. Kể từ tháng 6 năm 2021 đến nay, bà Th sống ly thân ông Th1.

Vì vậy, bà Th yêu cầu ly hôn ông Th1, chấp nhận giao 03 đứa con cho

ông Th1 trực tiếp nuôi con và không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.

Tại phiên tòa:

Ý kiến của bà Th: giữ nguyên ý kiến, yêu cầu theo đơn khởi kiện do ông

Th1 có người phụ nữ khác rồi đánh đập bà Th, vợ chồng không sống chung khoảng 03 năm nay.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới:

Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy

đủ quy định tại Điều 195, 196, 197, 198 và Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm, bảo đảm các trình tự, thủ tục và quyền tranh tụng tại phiên tòa.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: bà Th khởi kiện, yêu cầu ly hôn với ông

Th1 là có căn cứ; Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình: Chấp nhận khởi kiện của bà Th về yêu cầu ly hôn ông Th1; Cần giao cháu Trần Huyền Tr, sinh ngày 24/6/2011, Trần Thị Huyền M, sinh ngày 11/5/2013, Trần Văn Đ, sinh ngày 11/3/2015 cho ông Th1.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh

tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phân tích, đánh giá và nhận định như sau:

Bà Th có đơn khởi kiện đối với ông Th1 về yêu cầu ly hôn. Ông Th1

có nơi cư trú tại xã M, huyện C, tỉnh An Giang. Do đó, quan hệ pháp luật của vụ án “ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bà Th có mặt; ông Th1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà

vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bà Th và ông Th1 là vợ chồng hợp pháp, được nhà nước tôn trọng và

pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên, theo lời khai của bà Th, lời khai của người làm chứng bà Nguyễn Thị Ng do Tòa án thu thập cho thấy ông Th1 không còn yêu thương bà Th, vợ chồng sống ly thân, bỏ mặc nhau khoảng 03 năm nay. Mặt khác, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Th1 nhằm tạo điều kiện, tổ chức hòa giải tình cảm vợ chồng nhưng ông Th1 không có văn bản ý kiến, vắng mặt không có lý do thì xem như đã bỏ mặc việc tham gia tố tụng tại Tòa án cấp sơ thẩm.

Như vậy, ông Th1 không còn yêu thương bà Th, dẫn đến vợ chồng

sống ly thân, bỏ mặc nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời

sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được. Bà Th yêu

cầu ly hôn ông Th1 là có căn cứ. Theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố

tụng dân sự; Điều 19, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Tòa án chấp

nhận khởi kiện của bà Th về yêu cầu ly hôn ông Th1.

Khi ly hôn, theo ý kiến của bà Th, chấp nhận giao con Trần Huyền Tr,

Trần Thị Huyền M, Trần Văn Đ cho ông Th1 trực tiếp nuôi dưỡng, đây là ý kiến

tự định đoạt của bà Th, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã

hội. Mặt khác, theo nguyện vọng của con, lời khai của người làm chứng bà

Nguyễn Thị Ng thì thấy ông Th1 đang trực tiếp nuôi dưỡng các con, sống ổn

định, gắn bó thân thiết với ông Th1, con được quan tâm, chăm sóc tốt.

Theo quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình, Tòa án

chấp nhận ý kiến của bà Th, giao con Trần Huyền Tr, sinh ngày 24/6/2011, Trần

Thị Huyền M, sinh ngày 11/5/2013, Trần Văn Đ, sinh ngày 11/3/2015 cho ông

Th1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Sau khi ly hôn, ông Th1 phải tạo điều kiện thuận lợi cho bà Th thực hiện

quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Ông Th1 không yêu cầu cấp dưỡng cho con, bà Th không yêu cầu Tòa

án giải quyết về tài sản nên Tòa án không xem xét giải quyết theo quy định tại

Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về án phí sơ thẩm: bà Th phải chịu án phí ly hôn không có giá ngạch

theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 24,

điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016

của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 5, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1

Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3

Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 19, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn

nhân và Gia đình;

Căn cứ khoản 2 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Chấp nhận khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Th đối với bị đơn

ông Trần Minh Th1;

Bà Nguyễn Thị Th được ly hôn ông Trần Minh Th1.

Giấy chứng nhận kết hôn số 159, quyển số 01/2011 ngày đăng ký

08/9/2011 của Ủy ban nhân dân xã M cấp, không còn giá trị pháp lý kể từ ngày

bản án có hiệu lực pháp luật.

Giao con Trần Huyền Tr, sinh ngày 24/6/2011, Trần Thị Huyền M, sinh

ngày 11/5/2013, Trần Văn Đ, sinh ngày 11/3/2015 cho ông Th1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con và không yêu cầu cấp dưỡng cho con; Bà Th không trực tiếp nuôi con nhưng có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

2. Về án phí sơ thẩm: bà Th phải chịu 300.000 đồng, được trừ vào tạm

ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai số 0015305 ngày 29 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới.

3. Bà Th có quyền kháng cáo đối với bản án trong thời hạn 15 ngày được

tính từ ngày tuyên án. Ông Th1 vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

4. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án

dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ