- Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Anh T - Khoản 1 Điều 173 BLHS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Anh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 180/2023/HS-ST Ngày 10-8-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Lê
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Thảo;
Ông Huỳnh Sơn Tây.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nhâm Hoàng Long - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 131/2023/TLST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 170/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên toà số 50/2023/HSST-QĐ ngày 21 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:
Huỳnh Anh T, sinh năm 1997 tại Bình Dương; nơi cư trú: khu phố V, phường T, thị xã (nay là thành phố) U, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: bảo vệ; trình độ văn hoá: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn Nh, sinh năm 1970 và bà Võ Thị L, sinh năm 1977;
Tiền án: ngày 25/9/2020, bị cáo bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” tại Bản án số 195/2020/HS-ST; bị cáo nộp án phí hình sự ngày 17/11/2020 và chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/4/2021.
Tiền sự: không.
Nhân thân: ngày 02/11/2022, bị cáo bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Tân Uyên, tỉnh Bình Dương ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 16 tháng và hiện đang chấp hành Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bình Dương; có mặt.
- Bị hại: Bà Lâm Thị Phương L, sinh năm 1990; nơi thường trú: ấp V, xã M, huyện D, tỉnh Bạc Liêu; nơi tạm trú: nhà trọ Vũ Thị Bích Ng, tổ 7, khu phố 4, phường V, thành phố U, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Ông Huỳnh Văn Nh, sinh năm 1970; nơi cư trú: tổ 3, khu phố V, phường H, thành phố U, tỉnh Bình Dương; có mặt.
2. Ông Huỳnh Văn L1, sinh năm 1982; nơi cư trú: số nhà 24, tổ 8, khu phố 1, phường T, thành phố M, tỉnh Bình Dương; có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Huỳnh Anh T có 01 tiền án về hành vi Cướp tài sản chưa được xóa án tích và là đối tượng nghiện ma túy, không có công việc ổn định.
Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 22/8/2022, bị cáo T điều khiển xe mô tô biển số 61B1-376.61, nhãn hiệu Exciter, màu trắng xanh đi đến địa bàn phường Vĩnh Tân, thị xã (nay là thành phố) Tân Uyên, tỉnh Bình Dương để tìm tài sản chiếm đoạt. Khi đến khu nhà trọ Vũ Thị Bích Ng thuộc khu phố 4, phường Vĩnh Tân, T nhìn các phòng trọ đều đóng cửa. Lúc này, T để xe ở cổng nhà trọ rồi đi bộ vào trong dãy trọ. Khi đi đến phòng trọ số 5, T sử dụng tua vít dài khoảng 15cm bằng kim loại phá ổ khóa phòng trọ rồi đi vào trong lục tìm tài sản thì thấy số tiền 750.000 đồng trên kệ nhựa để trong phòng nên lấy bỏ vào túi quần, rồi tiếp tục lục tìm tài sản nhưng không tìm thấy tài sản nào khác nên đi ra khỏi phòng rồi điều khiển xe mô tô biển số 61B1-376.61 bỏ đi.
Đến khoảng 17 giờ cùng ngày 22/8/2022, bà Lâm Thị Phương L đi làm về thì thấy cửa phòng không còn ổ khoá. Bà L mở cửa phòng thì thấy đồ đạc trong phòng bị xáo trộn. Qua kiểm tra thì bà L phát hiện bị mất 01 đôi bông tai vàng 18K trọng lượng 0,9 chỉ; 02 sợi dây chuyền vàng 18K trọng lượng 03 chỉ và 02 chỉ; 01 lắc đeo tay vàng 18K trọng lượng 02 chỉ; 05 chiếc nhẫn vàng 18K trọng lượng 1,8 chỉ; 0,5 chỉ; 0,9 chỉ; 0,8 chỉ; 0,6 chỉ và 5.000.000 đồng tiền mặt. Đến ngày 24/8/2022, bà L đến Công an phường Vĩnh Tân trình báo sự việc. Qua trích xuất camera tại khu nhà trọ Vũ Thị Bích Ng, Cơ quan Công an đã xác định được bị cáo T là người đã phá khóa cửa vào phòng trộm cắp tài sản.
Tại Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 119/KL-HĐĐGTS ngày 06/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản thị xã (nay là thành phố) Tân Uyên kết luận: 01 đôi bông tai vàng 18K trọng lượng 0,9 chỉ; 01 sợi dây chuyền vàng 18K trọng lượng 03 chỉ; 01 dây chuyền vàng 18K trọng lượng 02 chỉ; 01 lắc đeo tay vàng 18K trọng lượng 02 chỉ; 01 chiếc nhẫn vàng 18K trọng lượng 1,8 chỉ; 01 chiếc nhẫn vàng 18K trọng lượng 0,5 chỉ; 01 chiếc nhẫn vàng 18K trọng lượng 0,9 chỉ; 01 chiếc nhẫn vàng 18K trọng lượng 0,8 chỉ; 01 chiếc nhẫn vàng 18K trọng lượng 0,6 chỉ có trị giá 41.250.000đ (Bốn mốt triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng). Như vậy, tổng giá trị tài sản theo như bị hại bà Lâm Thị Phương L trình báo bị chiếm đoạt là 46.250.000 đồng.
Quá trình điều tra bị cáo Huỳnh Anh T chỉ khai nhận hành vi chiếm đoạt số tiền 750.000 đồng trong phòng trọ của bà Lâm Thị Phương L; còn đối với số vàng và số tiền 5.000.000 đồng bị cáo T không thừa nhận đã chiếm đoạt của bà L. Ngoài ra, không còn chứng cứ nào khác chứng minh việc bị cáo T đã chiếm đoạt số vàng và số tiền 5.000.000 đồng như người bị hại trình bày.
Bản Cáo trạng số 140/CT-VKSTU ngày 15/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Huỳnh Anh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử như sau:
+ Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Huỳnh Anh T mức hình phạt từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.
+ Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường tài sản bị chiếm đoạt. Tại phiên toà, bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền 750.000 đồng, do đó đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
+ Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên trả lại cho ông Huỳnh Văn Nh xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, biển số 61B1-376.61, số máy 55P1296657, số khung RLCE55P10DY296652.
- Bị cáo Huỳnh Anh T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thống nhất tội danh, khung hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng, không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo cơ hội sửa chữa lỗi lầm để trở thành công dân tốt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã (nay là thành phố) Tân Uyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã (nay là thành phố) Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Bị hại đã được Toà án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên toà nhưng vắng mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có đơn xin vắng mặt. Đại diện Viện kiểm sát và bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng nêu trên. Xét thấy, việc vắng mặt của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt những người này.
Lời khai nhận tội của bị cáo Huỳnh Anh T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Trong quá trình điều tra, bị hại bà Lâm Thị Phương L cho rằng bản thân bị mất trộm các tài sản gồm: 01 đôi bông tai vàng 18K trọng lượng 0,9 chỉ; 02 dây chuyền vàng 18K trọng lượng 03 chỉ và 02 chỉ; 01 lắc đeo tay vàng 18K trọng lượng 02 chỉ; 05 chiếc nhẫn vàng 18K trọng lượng 1,8 chỉ; 0,5 chỉ; 0,9 chỉ; 0,8 chỉ; 0,6 chỉ và số tiền 5.000.000 đồng. Tuy nhiên, bị hại không có chứng cứ gì chứng minh được tài sản của mình, số vàng trên cũng không hoá đơn chứng từ; bị cáo chỉ thừa nhận đã chiếm đoạt (trộm) của bị hại số tiền 750.000 đồng. Ngoài ra, không có chứng cứ nào khác chứng minh việc bị cáo T đã chiếm đoạt số vàng và số tiền 5.000.000 đồng như bị hại trình bày. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận:
Bị cáo Huỳnh Anh T có 01 tiền án về hành vi chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án tích (cụ thể: ngày 25/9/2020, bị cáo bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Tân Uyên xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Cướp giật tài sản tại Bản án số 195/2020/HS-ST; bị cáo chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 29/4/2021). Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 22/8/2022 tại phòng trọ số 5 của nhà trọ Vũ Thị Bích Ng thuộc khu phố 4, phường Vĩnh Tân, thị xã (nay là thành phố) Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, bị cáo Huỳnh Anh T có hành vi phá khóa cửa phòng trọ lén lút chiếm đoạt số tiền 750.000 đồng (bảy trăm năm mươi nghìn đồng) của bị hại Lâm Thị Phương L. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật hình sự nhưng vì động cơ tư lợi và thái độ coi thường pháp luật nên đã cố ý thực hiện. Do đó cần có hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về nhân thân: bị cáo có nhân thân xấu.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên toà, bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền 750.000 đồng nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Đối với xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, biển số 61B1-376.61, số máy 55P1296657, số khung RLCE55P10DY296652. Qua tra cứu xe mô tô này do ông Huỳnh Văn L1 đứng tên chủ sở hữu. Ông L1 đã bán xe mô tô này cho ông Huỳnh Văn Nh (cha của bị cáo T) nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Ngày 22/8/2022, bị cáo T sử dụng xe mô tô này làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nhưng ông Nh hoàn toàn không biết. Do đó, cần trả lại cho ông Nh.
Đối với hành vi mà bị cáo Huỳnh Anh T khai nhận vào khoảng tháng 7 năm 2022, tại phòng số 11 của nhà trọ Phạm Thị H thuộc khu phố 2, phường H, thành phố M, tỉnh Bình Dương, bị cáo T có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu Oppo, màu đen của ông Nguyễn Công D (sinh năm 2003; nơi cư trú: ấp L, thị trấn X, huyện M, tỉnh Sóc Trăng). Tại Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 189/KL-HĐĐGTS ngày 27/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản thị xã (nay là thành phố) Tân Uyên kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Oppo A1K, màu đen, đã qua sử dụng có trị giá là 533.000 đồng. Ngày 05/01/2023, Cơ quan Công an thị xã (nay là thành phố) Tân Uyên đã có văn bản chuyển tin báo này đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương để thụ lý giải quyết theo thẩm quyền; là phù hợp.
Về án phí sơ thẩm: bị cáo phạm tội và phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Anh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Huỳnh Anh T 01 (một) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự; các điều 584, 585 và 590 của Bộ luật Dân sự;
Buộc bị cáo Huỳnh Anh T có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại bà Lâm Thị Phương L số tiền 750.000 đồng (bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu, nếu người phải thi hành án chưa thi hành xong khoản tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải trả cho người được thi hành án khoản tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
3. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Trả lại cho ông Huỳnh Văn Nh xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, biển số 61B1-376.61, số máy 55P1296657, số khung RLCE55P10DY296652.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/5/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương).
4. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Huỳnh Anh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 350.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nếu vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết công khai.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương (01); - VKSND tỉnh Bình Dương (01); - PV06, Công an tỉnh Bình Dương (01); - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương (01); - VKSND thành phố Tân Uyên (01); - Công an thành phố Tân Uyên (01); - Chi cục THADS thành phố Tân Uyên (01) (để thi hành); - Bị cáo (01); - Người tham gia tố tụng (03); - Lưu: VT, HS (02). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Võ Thị Lê |