vanban.org

Bản án 180/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 27/10/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T 01 (một) năm 3 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 19/8/2022.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc bị cáo T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Anh T phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T 01 (một) năm 3 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 19/8/2022.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẮC GIANG
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 180/2022/HS-ST
Ngày: 27-10-2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Thanh Quyên

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Môn

2. Ông Nguyễn Văn Bảng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Huệ – Kiểm sát viên.

Trong ngày 27/10/2022, tại điểm cầu trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 176/2022/HSST ngày 13/10/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 187/2022/QĐXXST – HS ngày 14/10/2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Anh T, sinh năm 1975; Nơi ĐKHKTT: Tổ 7, phường T, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang; Chỗ ở hiện nay: Ki ốt số 72, chợ S, xã S, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 12/12; Bố đẻ: Nguyễn Hoàng B, sinh năm 1940; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị M, sinh năm 1947 (đã chết); Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Vợ: Lạc Thị S, sinh năm 1982, đã ly hôn; Con: Có 01 con sinh năm 2007; Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân: Ngày 21/10/2010, bị Uỷ ban nhân dân thành phố Bắc Giang áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/8/2022 đến nay. Hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang và có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại:

1. Anh Đặng Đăng H, sinh năm 1983 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Số nhà 02, ngõ 23, đường Á , phường T, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

2. Ông Dương Văn S, sinh năm 1957 (Xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Số nhà 112, đường H, phường H, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Anh T, sinh năm 1975, trú tại Ki ốt số 72, chợ S, xã S, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang là đối tượng không có nghề nghiệp. Trong hai ngày 12/7/2022 và 15/7/2022, Nguyễn Anh T đã hai lần thực hiện trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Bắc Giang. Cụ thể:

*Vụ thứ nhất: Khoảng 03 giờ 30 phút ngày 12/7/2022, Nguyễn Anh T đi bộ từ nhà ở Ki ốt số 72, chợ S, thành phố Bắc Giang đến khu vực trung tâm thành phố Bắc Giang để trộm cắp tài sản. Khi đi đến ngõ 23, đường Á , phường T, thành phố Bắc Giang thì T nhìn thấy có nhiều xe ô tô đỗ trên vỉa hè. T đi đến vị trí chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA AVANTE biển kiểm soát 98A - 031.95 của anh Đặng Đăng Đ, sinh năm 1983 trú tại số nhà 02, ngõ 23, đường Á, phường T, thành phố Bắc Giang đang đỗ tại trước cửa nhà. Quan sát thấy không có người trông coi, T dùng tay phải mở thử cửa sau bên trái xe ô tô thì mở ra được. Sau đó, T ngồi vào ghế sau của xe ô tô quan sát thì thấy tại hốc để đồ cạnh cần số xe ô tô có 01 tập tiền polyme và 01 hộp đựng kính mắt màu đen làm bằng da nhãn hiệu GUCCI, mặt ngoài ở giữa hộp kính có 01 dọc màu đỏ và 02 dọc màu xanh lá cây, bên trong có 01 chiếc kính mắt màu đen, nhãn hiệu Gucci, gọng kính màu đỏ - xám; tại ghế trước cạnh ghế lái xe ô tô có 01 chiếc mũ lưỡi chai màu đen, nhãn hiệu GUCCI, mặt ngoài mũ có hình con rắn. T lấy toàn bộ số tài sản trên rồi ra khỏi xe và đóng cửa xe lại. Sau đó, T đếm tập tiền vừa trộm cắp được thấy có tổng số tiền là 2.270.000 đồng (gồm 03 tờ mệnh giá 500.000 đồng; 02 tờ mệnh giá 200.000 đồng; 03 tờ mệnh giá 100.000 đồng; 01 tờ mệnh giá 50.000 đồng và 01 tờ mệnh giá 20.000 đồng). Số tiền trên T chi tiêu hết, còn mũ lưỡi chai và hộp đựng kính kèm kính T giữ lại sử dụng.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 151/KL-HĐĐG ngày 26/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Bắc Giang kết luận:

- 01 (một) chiếc mũ lưỡi chai màu đen, được làm bằng chất liệu da và vải, nhãn hiệu GUCCI, mặt ngoài mũ có hình con vật, mua tháng 02/2022, mũ đã qua sử dụng, có trị giá tại thời điểm ngày 12/7/2022 là 4.500.000 đồng.

- 01 hộp đựng kính mắt màu đen được làm bằng chất liệu da, nhãn hiệu GUCCI, mặt ngoài ở giữa hộp kính có 01 dọc màu đỏ và 02 dọc màu xanh lá cây, bên trong đựng 01 chiếc kính mắt màu đen, gọng kính màu đỏ - xám, mua tháng 02/2022, đã qua sử dụng, có trị giá tại thời điểm ngày 12/7/2022 là 2.000.000 đồng.

Vụ thứ hai: Khoảng 17 giờ ngày 14/7/2022, Nguyễn Anh T đi bộ đến Công viên Hoàng Hoa Thám thuộc phường H, thành phố Bắc Giang chơi. Đến khoảng 03 giờ ngày 15/7/2022, T đi bộ ra máy bán nước tự động ở Cổng trung tâm thương mại 9 tầng, đường H, phường H, thành phố Bắc Giang mua nước uống. T nhìn thấy làn đường đối diện có nhiều xe ô tô đang đỗ ở trên vỉa hè, trước cửa nhà dân không có người trông giữ. T đi bộ đến vị trí chiếc xe ô tô nhãn hiệu Ford Fiesta biển kiểm soát 98A-005.81 của ông Dương Văn S, sinh năm 1957 trú tại số nhà 112, đường H, phường H, thành phố Bắc Giang đỗ tại vỉa hè trước cửa nhà. T dùng tay phải mở cửa ghế lái xe ô tô thì mở được cửa. T đứng bên ngoài thò đầu vào bên trong xe ô tô tìm tài sản. T quan sát và phát hiện tại vị trí giữa tấm chắn nắng và kính phía trước xe ô tô ở trước ghế lái có 01 tập tiền polyme mệnh giá 500.000 đồng. T lấy tập tiền rồi đóng cửa xe lại. T đi bộ ra khu vực khuôn viên Nguyễn Du thuộc phường H, thành phố Bắc Giang kiểm đếm thì thấy trộm cắp được số tiền 19 triệu đồng. T cất tiền vào túi quần bên phải phía trước đang mặc và đi về nhà. Số tiền trên T sử dụng chi tiêu cá nhân hết.

Ngày 19/8/2022, Nguyễn Anh T đến Công an thành phố Bắc Giang đầu thú, khai nhận hành vi trộm cắp tài sản và giao nộp 01 hộp đựng kính mắt màu đen được làm bằng chất liệu da, nhãn hiệu GUCCI, mặt ngoài ở giữa hộp kính có 01 dọc màu đỏ và 02 dọc màu xanh lá cây, bên trong có 01 chiếc kính mắt màu đen, gọng kính màu đỏ - xám; 01 chiếc mũ lưỡi chai màu đen, nhãn hiệu GUCCI, mặt ngoài mũ có hình con vật.

Tại bản cáo trạng số 173/CT - VKS ngày 10/10/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Anh T ra trước Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang để xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà: Bị cáo Nguyễn Anh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố. Viện kiểm sát truy tố bị cáo là không oan, bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình là sai, bị cáo rất hối hận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Về trách nhiệm dân sự đến nay ông S không yêu cầu bị cáo bồi thường bị cáo không có ý kiến gì.

Bị hại vắng mặt được Hội đồng xét xử công bố lời khai. Bị cáo không có ý kiến gì về những lời khai đó.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T từ 15 đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 19/8/2022.

Bị cáo không có tài sản riêng, không có việc làm, hiện đang bị tạm giam nên không cần áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung.

- Về trách nhiệm dân sự: Anh Đặng Đăng H và ông Dương Văn S không yêu cầu bị cáo bồi thường gì nên không đặt ra xem xét.

Ngoài ra, cần áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, bị hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Bắc Giang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình Điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên đều hợp pháp.

Về việc xét xử vắng mặt bị hại: Bị hại anh Đặng Đăng H đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, ông Dương Văn S có đơn xin xét xử vắng mặt. Việc vắng mặt của anh Hiệp, ông Sơn không ảnh hưởng tới kết quả xét xử nên Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự để xét xử vắng mặt anh Hiệp, ông Sơn là có căn cứ.

Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Nguyễn Anh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình gây ra. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Ngày 12/7/2022, Nguyễn Anh T mở được cửa xe ô tô biển kiểm soát 98A - 031.95 của anh Đặng Đăng H để tại trước cửa số nhà 02, Ngõ 23, đường Á , phường T, thành phố Bắc Giang sau đó trộm cắp trong xe ô tô 2.270.000 đồng tiền mặt và 01 hộp đựng kính bên trong có 01 chiếc kính nhãn hiệu GUCCI trị giá 2.000.000 đồng; 01 chiếc mũ lưỡi chai nhãn hiệu GUCCI trị giá 4.500.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 8.770.000 đồng.

Ngày 15/7/2022, Nguyễn Anh T mở được cửa xe ô tô biển kiểm soát 98A-005.81 của ông Dương Văn S để tại trước cửa số nhà 112, đường H, phường H, thành phố Bắc Giang sau đó trộm cắp trong xe ô tô số tiền 19.000.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản bị cáo T trộm cắp trong 2 vụ là 27.770.000 đồng.

Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Anh T đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo 02 lần thực hiện hành vi phạm tội với tổng giá trị tài sản trộm cắp là 27.770.000 đồng. Do vậy, cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương nơi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục chữa bệnh.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo 02 lần thực hiện hành vi phạm tội, giá trị tài sản trộm cắp mỗi lần đều trên 2.000.000 đồng. Do vậy, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội hai lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện ra đầu thú. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho bị cáo.

Xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, điều luật đã viện dẫn. Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục chữa bệnh. Bản thân bị cáo 02 lần thực hiện hành vi phạm tội với tổng giá trị tài sản trộm cắp là tương đối lớn. Do vậy, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục bị cáo trở thành người tốt cho xã hội.

Bị cáo không có tài sản riêng, không có việc làm, hiện đang bị tạm giam nên không cần áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung và cần áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Đặng Đình Hiệp và ông Dương Văn S không yêu cầu bị cáo bồi thường nên về trách nhiệm dân sự Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.

Ngoài ra cần áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; khoản 2 Điều 136; các Điều 331, Điều 332, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự để buộc bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T 01 (một) năm 3 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 19/8/2022.

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc bị cáo T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

- Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Báo cho bị cáo có mặt biết quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt biết quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ