- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa chị K và anh H"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận chị Lương Thị K và anh Lương Văn H là vợ chồng.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 180/2022/HNGĐ - ST Ngày: 16/11/2022. V/v tranh chấp về ly hôn, nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Dũng
Các Hội thẩm nhân dân:
1.Ông Nguyễn Văn Hiền
2.Bà: Lê Thị Phượng
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Thỏa là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Trịnh Thị Ngọc Soa - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 11 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 153/2022/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 121/2021/QĐST- HNGĐ ngày 02/11/2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lương Thị K, sinh năm 1982; địa chỉ: Bản Tân , xã NL, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt ( Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Bị đơn: Anh Lương Văn H, sinh năm 1980; địa chỉ: Bản T, xã NL, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và đơn đề nghị xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Lương Thị K trình bày như sau:
Về hôn nhân: Chị và anh Lương Văn H sống chung với nhau như vợ chồng vào tháng 2 năm 1998 tại bản Xốp Pe, xã Luân Mai, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An nhưng không đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền. Quá trình chung sống vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp. Tình cảm vợ chồng không còn chị Lương Thị K đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Lương Văn H.
Về nuôi con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Lương Thị Ngọc B, sinh ngày 01/5/1998 và Lương Duy Đ, sinh ngày 08/10/2007. Vợ chồng ly hôn cháu Lương Thị Ngọc Bảo đã trưởng thành chị Lương Thị K không yêu cầu Toà án giải quyết. Chị Lương Thị K đồng ý giao cháu Lương Duy Đạt cho anh Lương Văn H trực tiếp nuôi dưỡng. Chị xin tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Về chia tài sản chung và nợ: Chị Lương Thị K không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của bị đơn anh Lương Văn H:
Về hôn nhân: Anh và chị Lương Thị K sống chung với nhau như vợ chồng vào tháng 2 năm 1998 tại bản Xốp Pe, xã Luân Mai, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An nhưng không đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền. Quá trình chung sống vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp. Tình cảm vợ chồng không còn anh Lương Văn H đồng ý ly hôn với chị Lương Thị K.
Về nuôi con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Lương Thị Ngọc B, sinh ngày 01/5/1998 và Lương Duy Đ, sinh ngày 08/10/2007. Cháu Lương Thị Ngọc B đã trưởng thành nên anh H không yêu cầu Toà án giải quyết. Anh Lương Văn H có nguyện vọng nuôi dưỡng cháu Lương Duy Đ và không yêu cầu chị Lương Thị K cấp dưỡng nuôi con.
Về chia tài sản chung và nợ: Anh Lương Văn H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 28, Điều 35, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53, điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về hôn nhân: Xử không công nhận chị Lương Thị K và anh Lương Văn H là vợ chồng.
Về nuôi con chung: Ghi nhận sự thoả thuận của các đương sự giao cháu Lương Duy Đ, sinh ngày 08/10/2007 cho anh Lương Văn H trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị Lương Thị K.
Cháu Lương Thị Ngọc B đã trưởng thành các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về chia tài sản và nợ: Các đương sự không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.
Về án phí: Chị Lương Thị K phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về tố tụng: Tại phiên tòa nguyên đơn vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lương Thị K và anh Lương Văn H sống chung với nhau vào tháng 02 năm 1998, có tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán tại địa phương, nhưng không đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Sau khi tổ chức đám cưới thì chị Lương Thị K và anh Lương Văn H sống chung hạnh phúc được một thời gian đầu, sau đó thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên là do tính tình vợ chồng không hợp, vợ chồng không tin tưởng, tôn trọng nhau, chị Lương Thị K xin ly hôn thì anh Lương Văn H đồng ý.
Kết quả xác minh tại UBND xã Ngọc Lâm (xã Luân Mai, huyện Tương Dương cũ), huyện Thanh Chương là nguyên quán và nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của chị Lương Thị K và anh Lương Văn H và kết quả xác minh tại Phòng Tư pháp UBND huyện Tương Dương đều thể hiện chị Lương Thị K và anh Lương Văn H không có đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Xét thấy lời khai của chị Lương Thị K và anh Lương Văn H là có có căn cứ, phù hợp với kết quả xác minh tại UBND xã Ngọc Lâm (xã Luân Mai, huyện Tương Dương cũ), huyện Thanh Chương và kết quả xác minh tại Phòng Tư pháp UBND huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An.
Như vậy có đủ căn cứ kết luận:Về quan hệ hôn nhân giữa chị Lương Thị K và anh Lương Văn H là không hợp pháp, không được đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình, theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: Nam, nữ đủ điều kiện kết hôn theo quy định của luật này, chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ chồng. Nay chị Lương Thị K xin ly hôn anh Lương Văn H do đó Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân gia đình xử không công nhận chị Lương Thị K và anh Lương Văn H là vợ chồng.
Về nuôi con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Lương Thị Ngọc B, sinh ngày 01/5/1998 và Lương Duy Đ, sinh ngày 08/10/2007. Cháu Lương Thị Ngọc Bảo đã trưởng thành các đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.
Anh Lương Văn H có nguyện vọng nuôi dưỡng cháu Lương Duy Đ, sinh ngày 08/10/2007 và không yêu cầu chị Lương Thị K cấp dưỡng nuôi con. Ý kiến chị Lương Thị K đồng ý giao cháu Lương Duy Đ, sinh ngày 08/10/2007 cho anh Huy nuôi dưỡng, chị xin tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Tại biên bản ghi lời khai thì cháu Lương Duy Đ, sinh ngày 08/10/2007 có ý kiến là muốn được ở với bố Lương Văn H.
Xét thấy sự thỏa thuận của các đương sự về việc nuôi con là tự nguyện, không trái pháp luật, do đó ghi nhận sự thoả thuận của các đương sự giao cháu Lương Duy Đ, sinh ngày 08/10/2007 cho anh Lương Văn H trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị Lương Thị K là phù hợp với nguyện vọng của con, đúng với quy định tại các Điều 81,82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Về chia tài sản và nợ: Các đương sự không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Lương Thị K phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Xét thấy ý kiến phát biểu tại phiên tòa của đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán; Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa; những người tham gia tố tụng và việc đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng pháp luật để giải quyết nội dung vụ án là có căn cứ, đúng pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53, Điều 81,82,83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:
Về hôn nhân: Không công nhận chị Lương Thị K và anh Lương Văn H là vợ chồng.
Về nuôi con chung: Giao con chung là cháu Lương Duy Đ, sinh ngày 08/10/2007 cho anh Lương Văn H trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị Lương Thị K.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người yêu cầu thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Về án phí: Chị Lương Thị K phải chịu 300.000 (Ba trăm ngàn)đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng(Ba trăm ngàn) theo biên lai số 0009213 ngày 10/10/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.
Về quyền kháng cáo: Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| - TAND tỉnh Nghệ An; - VKS huyện Thanh Chương; - Chi cục THA dân sự H.Thanh Chương; - UBND xã Ngọc Lâm, H.Thanh Chương; - Các đương sự; - Lưu HS, VP. | Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TrÇn V¨n Dòng TrÇn V¨n Dòng |