vanban.org

Bản án 180/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Hoãn phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 175/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 3 năm 2017.

Thời gian, địa điểm mở lại phiên toà xét xử vụ án được ấn định như sau: Phiên toà dân sự sơ thẩm sẽ được mở lại vào hồi 07 giờ 30 phút ngày 14 tháng 4 năm 2017 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam. Địa chỉ: Thị trấn Phú Thịnh, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phan Thị Trà Giang-Nguyễn Văn Tâm"
  • Tòa quyết gì? Hoãn phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 175/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 3 năm 2017.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ NINH
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:180/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 22 -12 - 2022
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con khi ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ NINH, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Xu.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Thanh Loan.

Bà Nguyễn Thị Đào.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ngọc Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Cúc - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 109/2022/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2022 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2022/QĐXXST - HNGĐ ngày 16 tháng 11 năm 2022 giữa các đương sự:

1/ Nguyên đơn: Chị Phan Thị Trà G, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn 3, xã T, huyện P, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.

2/ Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn chị Phan Thị Trà G trình bày: Chị víi anh Nguyễn Văn T tự nguyện tìm hiểu và xây dựng gia đình, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Tam Dân, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam vào năm 2016. Trong quá trình chung sống vợ chồng chị phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh T không lo làm ăn, không có trách nhiệm với gia đình, không quan tâm đến vợ con, thường xuyên đánh bạc. Chị đã nhiều lần góp ý nhưng anh T không thay đổi, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, thường xuyên cãi vã nhau, chị không chịu đựng được nữa nên đã dẫn con về nhà cha mẹ ruột của chị tại thôn 3, xã T, huyện P, tỉnh Quảng Nam để làm ăn, sinh sống đến nay đã được 03 năm, phần ai nấy sống, không quan tâm đến nhau. Chị không còn tình cảm gì với anh T nữa nên làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.

Về nuôi con chung: Chị với anh T có 01 con chung là Nguyễn Phan A, sinh ngày 12/12/2016. Khi ly hôn chị có nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu A đến tuổi thành niên (Đủ 18 tuổi) và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa. Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử thực hiện đúng và đầy đủ các thủ tục tố tụng; Nguyên đơn thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình đúng quy định của pháp luật, bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình đúng quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị Trà G. Về hôn nhân: Áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xử cho chị Phan Thị Trà G và anh Nguyễn Văn T ly hôn. Về nuôi con chung: Áp dụng các Điều 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 giao cháu Nguyễn Phan A cho chị G nuôi dưỡng, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về chia tài sản chung, nợ chung: Chị G khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề nghị xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thủ tục tố tụng: Chị Phan Thị Trà G yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và yêu cầu giải quyết về nuôi con chung nên xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Nguyễn Văn T có nơi cư trú tại thôn N, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam theo quy định tại các Điều 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam thực hiện đầy đủ các bước tiến hành tố tụng giải quyết vụ án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, niêm yết hợp lệ các văn bản tống tụng cho bị đơn, nhưng bị đơn anh Nguyễn Văn T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

. Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị Trà G víi anh Nguyễn Văn T tự nguyện tìm hiểu và xác lập quan hệ hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Tam Dân, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam vào năm 2016 là hôn nhân hợp pháp. Chị G cho rằng trong quá trình chung sống vợ chồng chị phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh T không lo làm ăn, không có trách nhiệm với gia đình, không quan tâm đến vợ con, thường xuyên đánh bạc. Chị đã nhiều lần góp ý nhưng anh T không thay đổi, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, thường xuyên cãi vã nhau, chị không chịu đựng được nữa nên đã dẫn con về nhà cha mẹ ruột của chị tại thôn 3, xã T, huyện P, tỉnh Quảng Nam để làm ăn, sinh sống đến nay đã được 03 năm, phần ai nấy sống, không quan tâm đến nhau. Chị không còn tình cảm gì với anh T nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.

Trong quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án đã niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự cho anh T biết để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình nhưng anh T không hợp tác, không có thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Xét thấy mâu thuẫn giữa chị G và anh T thật sự trầm trọng, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị G yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về nuôi con chung: Chị G và anh T có 01 con chung là Nguyễn Phan A sinh ngày 12/12/2016. Khi ly hôn chị G có nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu A đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi) và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung. Anh T không có ý kiến về con chung. Xét thấy chị G có việc làm và thu nhập ổn định, đảm bảo lo cuộc sống cho cháu A, đối với cháu A hiện còn nhỏ phải cần sự chăm sóc của người mẹ và từ khi chị G về nhà cha mẹ ruột chị làm ăn sinh sống có có dẫn theo cháu A và trực tiếp nuôi dưỡng. Để có điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu A trưởng thành, phát triển tốt về mọi mặt. Hội đồng xét xử có cơ sở giao cháu A cho chị G tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Chị G khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Phan Thị Trà G phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ quốc hội khoá XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị Trà G.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị Trà G và anh Nguyễn Văn T ly hôn.

2. Về nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Phan A, sinh ngày 12/12/2016 cho chị Phan Thị Trà G trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi thành niên (Đủ 18 tuổi). Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về chia tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.

4. Về án phí: Chị Phan Thị Trà G phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng chị G đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0010465 ngày 05 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam. Chị G đã nộp xong tiền án phí.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (22/12/2022). Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Quảng Nam;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

- Các đương sự;

- UBND xã Tam Dân;

- VKSND huyện Phú Ninh;

Đã ký

- Chi cục THADS huyện Phú Ninh;

- Lưu hồ sơ vụ án, án văn.

Phạm Văn Xu TOÀ ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN PHÚ NINH

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc TỈNH QUẢNG NAM Số:.../2017/QĐST-HNGĐ

Phú Ninh, ngày 30 tháng 3 năm 2017

QUYẾT ĐỊNH

HOÃN PHIÊN TÒA

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ NINH, TỈNH QUẢNG NAM

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Quân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Sỹ.

2. Bà Huỳnh Thị Bích Phi.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mận là Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Triệu Tin - Kiểm sát viên.

Đã tiến hành mở phiên toà sơ thẩm xét xử vụ án dân sự thụ lý số: 175/2016/TLST-HNGĐ, ngày 26 tháng 12 năm 2016 về việc “Tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con, trách nhiệm trả nợ chung khi ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2017.

Xét thấy bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ mà vắng mặt tại phiên toà lần thứ nhất không có lý do.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 227 và Điều 233, 235 của Bộ luật tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Hoãn phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 175/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 3 năm 2017.

2.Thời gian, địa điểm mở lại phiên toà xét xử vụ án được ấn định như sau:

Phiên toà dân sự sơ thẩm sẽ được mở lại vào hồi 07 giờ 30 phút ngày 14 tháng 4 năm 2017 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam. Địa chỉ: Thị trấn Phú Thịnh, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam.

Cỡ chữ