- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma tuý - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Bùi Quang D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B THÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 180/2021/HSST Ngày 20 tháng 7 năm 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Sen.
Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Thị Kim Dung
2. Ông Phạm Quang Tuấn
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thu Hương - Cán bộ Tòa án nhân dân quận B, thành phố H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B, thành phố H tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thu Thủy- Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận B, thành phố H, Tòa án nhân dân quận B mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 132/2021/HSST ngày 22 tháng 6 năm 2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 250/2021/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2021 đối với:
* Bị cáo Họ và tên: Bùi Quang D, sinh năm: 1992; HKTT và nơi ở: Tổ 2B khu 1 phường C, thành phố H1, tỉnh Q; Nghề nghiệp: Không; Văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ và tên bố: Bùi Đức Th (Đã chết); Họ và tên mẹ: Đồng Thị X (Sinh năm: 1963); Gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 26/01/2021. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17h ngày 26/01/2021, tại trước cửa số nhà 55 ngõ 135 phố Đ, phường Ng, quận B, thành phố H, Tổ công tác Công an phường Ng phát hiện Bùi Quang D có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra D, phát hiện tại túi quần trước bên phải D đang mặc có 01 gói giấy bạc màu trắng kích thước 2,5 x 3,5 cm bên trong chứa tinh thể màu trắng. D khai nhận là ma túy “đá” mang đi để bán cho con nghiện kiếm lời. Tổ công tác đã đưa D về trụ sở Công an phường Ng để làm rõ. (BL 27, 28)
Ngoài số ma túy trên, D còn bị thu giữ (BL 48):
- 01 điện thoại di động Xiaomi Redmi Note 4x màu trắng bạc, ốp đen, có 02 số Imei: 865876032778901 và 865876032778919, bên trong có 02 sim: 0936370864 và 0384778995.
- Số tiền 90.000 VNĐ.
Kết luận giám định số 1237/KLGĐ – PC09 ngày 03/02/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố H kết luận: “Tinh thể màu trắng bên trong 01 gói giấy bạc màu vàng là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,669 gam” (BL 53)
Tại cơ quan điều tra, ban đầu Bùi Quang D khai nhận: Khoảng 16h ngày 26/01/2021, D đang ngồi một mình ở ghế đá trong công việc B1 thì gặp một nam thanh niên không quen biết đi bộ ở đó. Qua nói chuyện, nam thanh niên trên đặt vấn đề hỏi D có mua ma túy của anh ta không. D đồng ý và mua của nam thanh niên 300.000đồng ma túy “đá” với mục đích bán lại cho người khác với giá 400.000đồng để kiếm lời. Sau đó, nam thanh niên trên đưa cho D 01 gói giấy bạc màu trắng kích thước 2,5 x 3,5 cm bên trong chứa ma túy “đá”, rồi cầm 300.000đồng của D và bỏ đi. D cầm số ma túy trên cất vào trong túi quần trước bên phải rồi đi bộ ra cổng đường H1, rẽ vào ngõ 158 phố Ng. Khi D đi bộ đến trước cửa nhà số 55 ngõ 135 phố Đ thì bị Tổ công tác Công an phường Ng phát hiện bắt giữ cùng tang vật.
Sau đó, bị can Bùi Quang D đã thay đổi lời khai và khẳng định mua ma túy về để sử dụng cho bản thân. Tuy nhiên, lời khai ban đầu của D phù hợp với lời khai của người làm chứng, người liên quan, vật chứng thu giữ, hiện trường vụ án và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Do đó, việc D thay đổi lời khai là không có căn cứ.
Về đối tượng bán ma túy cho Bùi Quang D, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được lai lịch cụ thể nên không có căn cứ để xử lý. (BL 32, 33)
Tại bản cáo trạng số 115/CT-VKS ngày 18/6/2021 của Viện kiểm sát nhân dân quận B đã truy tố Bùi Quang D về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo qui định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B giữ quan điểm truy tố đối với bị cáo Bùi Quang D theo tội danh và điều luật đã viện dẫn tại Cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, đánh giá mức độ phạm tội, xem xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 251, Khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 26 tháng đến 30 tháng tù. Về xử lý vật chứng: Đề nghị: tịch thu tiêu hủy 01 gói ma tuý loại Methamphetamine có khối lượng 0,669 gam. Trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xaomi Redmi Note 4x màu trắng và số tiền 90.000đồng là tài sản của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã khai tại cơ quan điều tra và lời nói sau cùng trước khi hội đồng xét xử vào nghị án bị cáo xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận B, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận B, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Khoảng 16h ngày 26/01/2021 bị cáo Bùi Quang D đã mua 01 gói ma túy loại Methamphetamine trọng lượng 0,669gam của một người đàn không không quen biết với giá nhằm mục đích bán lại cho người khác với giá 400.000đồng để kiếm lời. Đến khoảng 17 giờ ngày 26/01/2021, tại trước cửa số nhà 55 ngõ 135 phố Đ, phường Ng, quận B, thành phố H, Bùi Quang D chưa kịp bán số ma túy trên thì bị Tổ công tác Công an phường Ng bắt quả tang cùng vật chứng
Quá trình điều tra, tại lời khai ban đầu bị cáo thừa nhận mua số ma túy với mục đích bán để kiếm lời. Sau đó bị cáo thay đổi lời khai khẳng định mua ma túy về để sử dụng cho bản thân. Tuy nhiên, tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận mua ma túy với mục đích bán để kiếm lời.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về chế độ quản lý cac chất ma túy. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy được tác hại của hành vi mua bán trái phép chất ma túy nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bản thân bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự tại thời điểm phạm tội, có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ. Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Quang D đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình theo Bản cáo trạng và lời luận tội của Viện kiểm sát. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với Biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, tang vật thu giữ trong vụ án, kết luận giám định của phòng kỹ thuật hình sự công an thành phố H và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Bùi Quang D cấu thành tội « Mua bán trái phép chất ma túy » theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Bản cáo trạng và Lời luận tội của Viện kiểm sát nhân dân quận B truy tố và kết luận về hành vi phạm tội của bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Tệ nạn ma túy là vấn nạn nhức nhối trong xã hội bởi những tác hại rất lớn mà ma túy gây ra cho sức khỏe con người, ma túy cũng là nguồn gốc phát sinh ra nhiều loại tội phạm khác trong xã hội, tạo nên sự bất ổn định của tình hình trật tự trị an xã hội ở địa phương. Tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng. Vì vậy, cần phải có mức hình phạt tương xứng và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về nhân thân, bị cáo chưa có tiền án tiền sự. Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận tội và thể hiện rõ thái độ ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự 2015. Vì vậy, khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét để giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội, cũng là thể hiện tính chất khoan hồng và nhân đạo của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B đề nghị áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là có căn cứ. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 38 của Bộ luật hình sự buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù có thời hạn.
Bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo theo quy định tại Khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với gói ma túy thu giữ của bị cáo là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng 0,669 gam là vật cấm lưu hành và là công cụ phương tiện phạm tội nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xaomi Redmi Note 4x màu trắng và số tiền 90.000đồng là tài sản của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các căn cứ, nhận định của Hội đồng xét xử,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: bị cáo Bùi Quang D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
[1] Về hình phạt: Căn cứ vào khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015, Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015.
Xử phạt: Bị cáo Bùi Quang D 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/01/2021.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[2] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 gói ma tuý loại Methamphetamine, khối lượng 0,669 gam đã qua giám định. Bên ngoài có chữ ký của giám định viên và đối tượng.
- Trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xaomi Redmi Note 4x màu trắng có vỏ ốp màu đen, kèm theo sim số 0936370864 và sim số 0384778995; và số tiền 90.000đồng.
Các vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận B theo Biên bản bàn giao vật chứng số 178 ngày 03/6/2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận B và Chi cục Thi hành án dân sự quận B, thành phố H và Giấy nộp tiền ngày 28/5/2021 vào Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam.
[3] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND TP. H; - VKSND TP. H; - VKSND quận B; - Công an quận B; - Chi cục THADS quận B; - Trại tạm giam số I H; - UBND P. C, TP H1, Q; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Dương Thị Sen |