vanban.org

Bản án 180/2018/HS-PT — Hình sự

TAND TP Đà Nẵng Tuyên án 19/10/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 19/10/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn H , giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Xử phạt: Lê Văn H 12 (mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Về án phí: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo Lê Văn H phải chịu 200.000đ án phí hình sự ph… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "lê văn H - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn H , giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 180/2018/HS-PT
Ngày 19-10-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Huỳnh Đức Kỳ

Các Thẩm phán:

Ông Trần Minh Long

Ông Bùi Trọng Danh

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mỹ Loan – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Lựu - Kiểm sát viên.

Ngày 19/10/2018 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 161/2018/TLPT-HS ngày 17/9/2018 đối với bị cáo Lê Văn H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2018/HS-ST ngày 10/8/2018 của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

- Bị cáo có kháng cáo:

Lê Văn H (S), sinh ngày 20/7/1990 tại Đà Nẵng; nơi ĐKNKTT: K1xx/xx T, phường C, quận T, thành phố Đà Nẵng; chỗ ở hiện nay: K4xx/Hxx/x đường T, quận H, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn L (s) và bà Trần Thị Thanh T (s); có vợ là Trần Lê Hồng L và 01 con sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Chưa; Bị cáo hiện đang tại ngoại. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ ngày 30/3/2018, Lê Văn H đột nhập vào nhà anh Phạm Viết T và chị Nguyễn Thị Thu T tại K4xx/xxB T, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng để trộm cắp tài sản, trong lúc đang lục tìm tài sản thì bị bắt quả tang.

Qua làm việc, H khai nhận đã 04 lần đột nhập vào nhà anh T và chị T trộm cắp, cụ thể:

- Ngày 22/02/2018, H đột nhập vào nhà anh T và chị T trộm cắp được 5.500.000 đồng tiền mặt.

- Ngày 02/3/2018, H đột nhập vào nhà anh T và chị T trộm cắp được 5.000.000 đồng tiền mặt.

- Ngày 17/3/2018, H đột nhập vào nhà anh T và chị T trộm cắp được 4.500.000 đồng tiền mặt.

- Ngày 23/3/2018, H đột nhập vào nhà anh T và chị T trộm cắp được 13.000.000 đồng tiền mặt.

Tổng giá trị tài sản H đã chiếm đoạt là 28.000.000 đồng.

Bị cáo Lê Văn H đã bồi thường khắc phục hậu quả 28.000.000 đồng và bồi thường tổn thất tinh thần cho người bị hại 22.000.000 đồng.

Tại Bản án sơ thẩm số 50/2018/HS-ST ngày 10/8/2018 của Tòa án nhân dân quận Hải Châu đã quyết định:

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 173; điểm b, r, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Lê Văn H 12 (mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Bản án sơ thẩm còn tuyên về phần xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo bản án.

Ngày 21/8/2018, bị cáo Lê Văn H có đơn kháng cáo với nội dung: Bị cáo đã ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo và khắc phục thiệt hại, bồi thường cho người bị hại. Bị cáo là lao động chính trong gia đình và đang nuôi con nhỏ, vợ bị cáo đang bị bệnh trầm cảm, suy giảm khả năng nhận thức nặng nên không có sức lao động. Bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, chưa có tiền án, tiền sự; có địa chỉ cư trú rõ ràng, xin cấp phúc thẩm xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có điều kiện lao động nuôi sống gia đình.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Đơn kháng cáo của bị cáo Lê Văn H theo đúng thủ tục và trong thời hạn kháng cáo. Xét về nội dung đơn kháng cáo của bị cáo thì thấy bản án hình sự sơ thẩm số 50/2018/HS-ST ngày 10/8/2018 của Tòa án nhân dân quận Hải Châu đã xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng tội. Về mức án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 12 tháng tù là phù hợp. Tuy nhiên, Bị cáo sau khi phạm tội đã ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo và khắc phục thiệt hại, bồi thường đầy đủ cho người bị hại. Bị cáo là lao động chính trong gia đình và đang nuôi con nhỏ, vợ bị cáo đang bị bệnh trầm cảm. Bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; có địa chỉ cư trú rõ ràng, Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ ở khoản 2 Điều 51 và Điều 65 BLHS, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức án sơ thẩm nhưng cho bị cáo được hưởng án treo.

Bị cáo Lê Văn H vẫn giữ nguyên kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đơn kháng cáo, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ

vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Trong khoảng thời gian từ ngày 22/02/2018 đến ngày 30/3/2018, Lê Văn H đã lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản, liên tục 04 lần (phạm tội nhiều lần) đột nhập vào nhà anh Phạm Viết T và chị Nguyễn Thị Thu T , là người hàng xóm của Hùng, tại K4xx/xxB T , phường H , thành phố Đà Nẵng để trộm cắp tài sản, cụ thể:

- Ngày 22/02/2018, H trộm cắp được 5.500.000 đồng tiền mặt.

- Ngày 02/3/2018, H trộm cắp được 5.000.000 đồng tiền mặt.

- Ngày 17/3/2018, H trộm cắp được 4.500.000 đồng tiền mặt.

- Ngày 23/3/2018, H trộm cắp được 13.000.000 đồng tiền mặt.

- Ngày 30/3/2018, H đột nhập và nhà, đang lục tìm tài sản thì bị bắt quả tang.Tổng giá trị tài sản H đã chiếm đoạt là 28.000.000 đồng.

Vì vậy, Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2018/HS-ST ngày 10/8/2018 của Tòa án nhân dân quận Hải Châu đã xét xử bị cáo Lê Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có cơ sở, đúng tội.

. Xét kháng cáo của bị cáo Lê Văn H thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Chỉ trong khoảng thời gian ngắn, bị cáo đã 04 lần lén lút đột nhập vào nhà chị Nguyễn Thị Thu T để trộm cắp tài sản với tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 28.000.000 đồng. Do đó, đối với bị cáo cần phải xử lý phạt thỏa đáng để giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Bản án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, xử phạt bị cáo mức án 12 tháng tù là không nặng. Theo điều 03 nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định không cho hưởng án treo đối với người phạm tội nhiều lần. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và ý kiến đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa, giữ nguyên án sơ thẩm.

. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

. Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: Điểm a Khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn H , giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 173; điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Lê Văn H 12 (mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Về án phí: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo Lê Văn H phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ