- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bắt giữ người trái pháp luật, Cưỡng đoạt tài sản - phạm tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (điều 123 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Lê Thanh V phạm tội “Bắt người trái pháp luật” và tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 55 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA TỈNH BÀ RỊA – VNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2018/HSST Ngày: 10/4/2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Anh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đặng Văn Đê
2. Bà Lê Thị Quỳnh Nga
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phùng Nữ Lệ Chi - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vng Tàu, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 09/2018/HSST ngày 16 tháng 3 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2018/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2018 đối với bị cáo:
ĐOÀN LÊ THANH V – Sinh năm 1990, tại Bà Rịa – Vng Tàu.
Hộ khẩu thường trú: tổ 13, thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Bà Rịa – Vng Tàu; chỗ ở: như trên; nghề nghiệp: bảo vệ; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; con ông Đoàn Văn S, sinh năm 1952 và bà Lê Thị Ơ, sinh năm 1952.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt tạm giữ từ ngày 21/11/2017
Bị cáo bị dẫn giải ra trước Tòa.
+ Ngƣời bị hại: Cháu Nguyễn Ngọc Thanh T - Sinh ngày 15/8/2003 (có mặt).
Trú tại: Tổ 11, khu phố Kim Sơn, phường Kim Dinh, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vng Tàu.
Ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Trần Bích N, sinh năm 1994 là dì ruột (có mặt).
Trú tại: Tổ 14, khu phố Kim Hải, phường Kim Dinh, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vng Tàu.
Ngƣời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Bà Lê Thị T – Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bà Rịa – Vng Tàu (có mặt).
+ Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đoàn Lê Xuân B - Sinh năm 1993.
Trú tại: tổ 13, thôn Láng Cát, xã Tân Hải, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vng Tàu (vắng mặt).
+ Ngƣời làm chứng: Ông Nguyễn Nhân H - Sinh năm 1960 (vắng mặt).
Trú tại: Tổ 9, khu phố Hải Dinh, phường Kim Dinh, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 7/2017, Đoàn Lê Thanh V và cháu Nguyễn Ngọc Thanh T quen biết và có quan hệ tình cảm với nhau. Sau đó, cháu T yêu cầu chia tay nên khoảng đầu tháng 8/2017 V hẹn T đến quán cà phê Thúy Phương thuộc địa bàn thôn Chu Hải, xã Tân Hải, huyện Tân Thành để nói chuyện nhằm níu kéo tình cảm. Tại quán cà phê Thúy Phương, V và T ngồi nói chuyện trong một chòi lá phía gần cuối quán, một lát sau V đi vệ sinh thì phát hiện ở cửa nhà vệ sinh có một sợi dây điện dài khỏang 40-50cm. Lúc này V nảy sinh ý định lấy sợi dây điện trói cháu T để chụp ảnh khỏa thân nhằm mục đích khống chế cháu T phải nối lại tình cảm với mình. V cầm sợi dây điện trở lại chòi, lợi dụng lúc cháu T không để ý V dùng sợi dây điện trói hai tay cháu T ra phía sau, bế T nằm lên bàn, vén áo ngoài, áo lót của T lên cổ và kéo quần dài, quần lót xuống đầu gối, sau đó dùng điện thoại chụp ảnh khỏa thân của T. Chụp hình xong V kéo quần áo lên, cởi trói cho T và ra về. Đến đầu tháng 11/2017, V nhắn tin cho T yêu cầu đưa 3.000.000 đồng nếu không V sẽ công khai hình ảnh khỏa thân của T lên mạng xã hội. Vì lo sợ lộ ảnh nhạy cảm nên T đồng ý và hẹn V đến tiệm Internet Như Ngọc thuộc phường Kim Dinh, thành phố Bà Rịa giao nhận tiền. Ngày 20/11/2017, T đến cơ quan công an trình báo, đến khoảng 15 giờ ngày 21/11/2017 T cầm 3.000.000 đồng đến tiệm Như Ngọc giao cho V, trong lúc V vừa cầm tiền bỏ vào túi quần thì bị lực lượng công an phường Kim Dinh bắt quả tang cùng tang vật gồm: 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số 72E-36163; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Đoàn Lê Xuân B; 01 giấy phép lái xe số 770155004948 mang tên Đoàn Lê Thanh V; 01 điện thoại di động Vivo màu đen số iemi: 865569034675536; tiền mặt 3.000.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra, Đoàn Lê Thanh V đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nêu trên.
Về vật chứng: Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số 72E-36163; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Đoàn Lê Xuân B là tài sản thuộc quyền sở hữu của anh B, B cho V mượn xe nhưng không biết V sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã giao trả cho anh B. Số tiền 3.000.000 đồng giao trả cho người đại diện hợp pháp của cháu T là bà Trần Bích N.
Đối với 01 giấy phép lái xe số 770155004948 mang tên Đoàn Lê Thanh V; 01 điện thoại di động Vivo màu đen số iemi: 865569034675536, cơ quan điều tra đã chuyển giao Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa bảo quản chờ xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Ngọc Thanh T và đại diện hợp pháp của cháu T không có yêu cầu về trách nhiệm dân sự.
Tại bản cáo trạng số 12/CT-VKSBR ngày 16/3/2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa đã truy tố Đoàn Lê Thanh V về tội “Bắt giữ người trái pháp luật” theo khoản 1 Điều 123 và tội “Cưỡng đoạt tài sản” khoản 1 Điều 135 Bộ luật hình sự năm 1999.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi trái pháp luật của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và xin được giảm nhẹ hình phạt.
Trong phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo V , đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đoàn Lê Thanh V phạm tội “Bắt giữ người trái pháp luật” và tội “Cưỡng đoạt tài sản”; đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 123, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46, điểm h khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự 1999 xử phạt bị cáo V từ 6 đến 9 tháng tù về tội “Bắt giữ người trái pháp luật”; đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 135, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46, điểm h khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự 1999 xử phạt bị cáo V từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”; áp dụng Điều 55 BLHS năm 2015 tổng hợp hình phạt chung đối với bị cáo V.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Vivo màu đen số imei: 865569034675536; giao trả cho bị cáo V 01 giấy phép lái xe số 770155004948 mang tên Đoàn Lê Thanh V.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại trình bày: Qua các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa hôm nay thì thấy hành vi bị cáo V trói, chụp ảnh khỏa thân sau đó dùng hình ảnh đe dọa nhằm mục đích cưỡng đoạt tài sản của cháu Thanh là vi phạm khoản 1 Điều 123 và khoản 1 Điều 135 Bộ luật hình sự 1999 đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Hành vi của bị cáo đã gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm đến quyền tự do cá nhân và quyền sở hữu về tài sản của bị hại. Tại thời điểm bị cáo phạm tội bị hại Nguyễn Ngọc Thanh T chưa đủ 15 tuổi nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 48 BLHS. Về trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử quyết định hình phạt theo quy định. Về trách nhiệm dân sự thì bị hại và người đại diện hợp pháp không yêu cầu giải quyết.
Bị cáo nói lời nói sau cùng, bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai trái, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ để bị cáo có cơ hội trở về phụ giúp gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Bà Rịa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng; phù hợp với vật chứng thu giữ được và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Từ đó, có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 9 giờ một ngày đầu tháng 8/2017, tại quán cà phê Thúy Phương thuộc thôn C, xã T, huyện T, Đoàn Lê Thanh V đã có hành vi dùng dây điện trói tay, khống chế, ép buộc, chụp ảnh cháu Nguyễn Ngọc Thanh T đang khỏa thân, sau đó dùng ảnh khỏa thân đe dọa nhằm mục đích chiếm đoạt số tiền 3.000.000 đồng của cháu T. Ngày 21/11/2017 tại tiệm Internet Như Ngọc thuộc phường Kim Dinh, thành phố Bà Rịa, Đoàn Lê Thanh V bị bắt quả tang khi đang nhận số tiền 3.000.000 đồng từ cháu T.
Hành vi phạm tội của bị cáo như nêu trên đã đủ dấu hiệu cấu thành tội “Bắt giữ người trái pháp luật” theo quy định tại khoản 1 Điều 123 và tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 135 Bộ luật hình sự năm 1999, đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
Hành vi của bị cáo V là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm cùng lúc hai khách thể quan trọng được luật hình sự bảo vệ là quyền bất khả xâm phạm về thân thể, tự do cá nhân của công dân và quyền sở hữu tài sản, gây mất trật tự, an toàn xã hội, gây tâm lý bất bình trong quần chúng nhân dân. Hành vi bắt giữ sau đó ép buộc chụp ảnh khỏa thân của cháu T khi cháu mới 14 tuổi còn gây tác động nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm và sự phát triển tâm sinh lý của bị hại. Hành vi phạm tội của bị cáo là thuộc trường hợp phạm tội đối với trẻ em là tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự. Thời điểm thực hiện tội phạm, bị cáo là người đã trưởng thành nên có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo hoàn toàn nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và sẽ bị xử lý nghiêm, nhưng vì tham lam, ý thức chấp hành pháp luật kém nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, cần thiết phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo biết tuân thủ pháp luật, đồng thời nhằm răn đe, phòng ngừa những hành vi tương tự trong xã hội.
Tuy nhiên, có xem xét quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại về tài sản, sức khỏe, tính mạng cho người bị hại; bị cáo có ông nội và cha ruột là người có công với cách mạng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ mà Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng để xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt.
Sau khi quyết định hình phạt đối với từng tội danh cần áp dụng Điều 55 Bộ Luật hình sự 2015 để tổng hợp hình phạt đối với bị cáo V.
. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Ngọc Thanh T và người đại diện hợp pháp của bị hại là bà Trần Bích N không yêu cầu về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử không giải quyết.
. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số 72E-36163; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Đoàn Lê Xuân B là tài sản thuộc quyền sở hữu của anh B, B cho V mượn xe nhưng không biết V sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã giao trả cho anh B; số tiền 3.000.000 đồng giao trả cho người đại diện hợp pháp của cháu T là bà Trần Bích N là phù hợp.
Đối với 01 giấy phép lái xe số 770155004948 mang tên Đoàn Lê Thanh V xét đây là giấy tờ tùy thân của bị cáo nên cần tuyên giao trả cho bị cáo V.
Đối với 01 điện thoại di động Vivo màu đen số imei: 865569034675536 thu giữ của bị cáo, do đây là phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
. Về án phí: Bị cáo V phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Lê Thanh V phạm tội “Bắt người trái pháp luật” và tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
1/ Áp dụng khoản 1 Điều 123, điểm g, p khoản 1 khoản 2 Điều 46, điểm h khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999;
Xử phạt: Đoàn Lê Thanh V 06 (sáu) tháng tù về tội “Bắt giữ người trái pháp luật”.
2/ Áp dụng khoản 1 Điều 135, điểm g, p khoản 1 khoản 2 Điều 46, điểm h khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999;
Xử phạt: Đoàn Lê Thanh V 12 (mƣời hai) tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự 2015, buộc bị cáo Đoàn Lê Thanh V phải chấp hành hình phạt chung đối với hai tội danh nêu trên là 18 (mƣời tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 21/11/2017.
+ Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên xử:
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu đen số imei: 865569034675536 (máy đã cũ và không hoạt động).
- Gia trả cho bị cáo V 01 giấy phép lái xe hạng A1 số 770155004948 mang tên Đoàn Lê Thanh V.
(Số vật chứng trên hiện đang được Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vng Tàu quản lý biên bản giao nhận vật chứng số 30/BB.THA ngày 19/3/2018).
+ Về án phí: Buộc bị cáo Đoàn Lê Thanh V phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (10/4/2018), bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vng Tàu xét xử phúc thẩm. Người có quyền và nghĩa vụ liên quan vắng mặt thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh BR-VT; - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT; - PV 27 – Công an tỉnh BR-VT; - VKSND Tp. Bà Rịa; - Cơ quan CSĐT Công an Tp. Bà Rịa; - Chi cục THADS Tp. Bà Rịa; - UBND xã nơi bị cáo cư trú; - Bị cáo; bị hại; đại diện hp bị hại; người bảo vệ quyền và lợi ích hp của bị hại; người liên quan; - Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Ngọc Anh Nguyễn Thị Ngọc Anh |