- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Yêu cầu bồi thường thiệt hại sức khỏe"
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2018/DS-ST Ngày: 30-5-2018 V/v tranh chấp dân sự về bồi thường thiệt hại về sức khỏe |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Kiều Kim Xuân
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Tăng Phước Long – Giám đốc Bảo hiểm Xã hội thành phố Sa Đéc
2. Bà Ngô Thúy Hiền – Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố Sa Đéc
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thanh Thùy – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Hòa - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 09 thàng 5 năm 2018 và ngày 30 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 324/2017/TLST-DS ngày 06 tháng 10 năm 2017, về tranh chấp dân sự về bồi thường thiệt hại về sức khỏe, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2018/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 4 năm 2018, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 07/2018/QĐST-DS ngày 09 tháng 5 năm 2018, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1938
2. Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1982
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn (bà L và chị T1): Anh Nguyễn Hoàng T2, sinh năm 1973, là đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 12-6-2017).
3. Em Nguyễn Thị Hồng N1, sinh ngày 15-8-2003
4. Em Nguyễn P, sinh ngày 02-6-2007
Người đại diện theo pháp luật của em N và em P: Anh Nguyễn Hoàng T2, sinh năm 1973, là cha ruột
Cùng địa chỉ: Số nhà 21, Lô D, KDC ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp
- Bị đơn: Ông Lê Văn Bé N2, sinh năm 1968
Địa chỉ: Số nhà 42, lô B, KDC ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp
- Người c quy n lợi và ngh a v liên quan tham gia tố t ng với bên nguyên đơn: Anh Nguyễn Hoàng T2, sinh năm 1973
Địa chỉ: Số nhà 21, Lô D, KDC ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp
(Các đương sự có mặt tại phiên tòa.)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qúa trình tham gia tố t ng tại Tòa án, trong quá trình thu thập chứng cứ và tại phiên tòa hôm nay, anh Nguyễn Hoàng T2, là đại diện hợp pháp của các nguyên đơn bà L, chị T1, em N1, em P, đồng thời là người c quy n lợi, ngh a v liên quan trong v án, trình bày:
Vào khoảng 15 giờ ngày 15-4-2017, ông Bé N có đi vệ sinh sát bên hẽm nhà anh T2, vợ anh T2 là chị T1 đứng trong nhà cách đó 1,5 m chứng kiến sự việc ông Bé N2 vừa tiểu vừa chửi nên chạy vô nhà nói anh T2 để quay phim lại, mục đích để có chứng cứ báo cho chính quyền địa phương xử lý đối với ông N2, do ông N2 nhiều lần đi vệ sinh không đúng nơi quy định. Khi biết được việc anh T2 quay phim, ông N2 qua đứng trước nhà anh T2 chửi anh T2, sau đó thì về. Tiếp đến, ông N2 điện thoại cho bạn đến nhà ông Nguyễn Minh H để uống rượu, con gái ông N2 (em V) qua nhà anh T2 tiếp tục chửi gia đình anh T2. Lúc này, mẹ anh T2 là bà Nguyễn Thị L ra kêu cháu V về thì V có hành vi xô đẩy bà L. Anh T2 trông thấy nên từ trong nhà chạy tới đẩy em V ra, thấy vậy, ông N2 cầm chổi và cây gỗ xông vào nhà anh T2, xô đẩy bà L, làm bà L té xuống nền nhà, dùng cây gỗ đánh vào đầu chị T1, dùng tay đánh vào mặt cháu N1, cháu P gây thương tích cho bà L ở bàn tay trái, chị T1 bị chấn thương đầu, cháu N1 bị chấn thương đầu và cháu P bị thương tích ở đùi phải nhập viện điều trị.
Do đó, gia đình anh T2 yêu cầu ông Bé N2 bồi thường thiệt hại về sức khỏe như sau:
1. Đối với bà Nguyễn Thị L: Anh T2 yêu cầu ông Lê Văn Bé N2 bồi thường cho bà L, các khoản:
+ Viện phí điều trị tại bệnh viện Sa Đéc: 236.000 đồng;
+ Phí lấy giấy chứng thương: 30.000 đồng;
+ Tiền thuốc theo toa tại bệnh viện Sa Đéc: 46.000 đồng;
+ Tiền cơm lúc nằm viện 2,5 ngày: 130.000 đồng;
+ Nước uống và sữa lúc nằm viện: 70.000 đồng;
+ Tiền tổn thất tinh thần và danh dự: 1.000.000 đồng x 03 tháng= 3.000.000đồng;
+ Tiền công lao động bị mất: 100.000 đồng/ngày x 03 ngày = 300.000 đồng;
+ Thuê mướn người nuôi bệnh: 250.000 đồng.
Tổng cộng là: 4.062.000đồng (Bốn triệu không trăm sáu mươi hai ngàn đồng).
2. Đối với chị Nguyễn Thị T1: Anh T2 yêu cầu ông Lê Văn Bé N2 bồi thường cho chị T2, các khoản:
+ Viện phí điều trị tại bệnh viện Sa Đéc: 221.000 đồng;
+ Phí lấy giấy chứng thương: 30.000 đồng;
+ Tiền thuốc theo toa tại bệnh viện Sa Đéc: 52.000 đồng;
+ Tiền cơm lúc nằm viện 2,5 ngày: 130.000 đồng;
+ Nước uống lúc nằm viện: 40.000 đồng;
+ Tiền tổn thất tinh thần và danh dự: 1.000.000 đồng x 03 tháng= 3.000.000 đồng;
+ Tiền công lao động bị mất: 100.000 đồng x 03 ngày = 300.000 đồng;
+ Thuê mướn người nuôi bệnh: 250.000 đồng
Tổng cộng là: 4.023.000đồng (Bốn triệu không trăm hai mươi ba ngàn đồng).
3. Đối với em Nguyễn Thị Hồng N1: Anh Th2 yêu cầu ông Lê Văn Bé N2 bồi thường cho em N1, các khoản:
+ Viện phí điều trị tại bệnh viện Sa Đéc: 519.000 đồng;
+ Phí lấy giấy chứng thương: 30.000 đồng;
+ Tiền cơm lúc nằm viện 4,5 ngày: 195.000 đồng;
+ Nước uống và sữa lúc nằm viện: 134.000 đồng;
+ Tiền tổn thất tinh thần và danh dự: 1.000.000 đồng x 05 tháng= 5.000.000 đồng;
+ Thuê mướn người nuôi bệnh: 250.000 đồng.
Tổng cộng là: 6.128.000đồng (Sáu triệu một trăm hai mươi tám ngàn đồng).
4. Đối với em Nguyễn p: Anh T2 yêu cầu ông Lê Văn Bé N2 bồi thường cho em P, các khoản:
+ Viện phí điều trị tại bệnh viện Sa Đéc: 221.000 đồng;
+ Phí lấy giấy chứng thương: 30.000 đồng;
+ Tiền cơm lúc nằm viện 2,5 ngày: 95.000 đồng;
+ Nước uống và sữa lúc nằm viện: 104.000 đồng;
+ Tiền tổn thất tinh thần và danh dự: 1.000.000 đồng x 03 tháng= 3.000.000 đồng;
+ Thuê mướn người nuôi bệnh: 250.000 đồng.
Tổng cộng là: 3.700.000đồng (Ba triệu bảy trăm ngàn đồng).
Ngoài ra, anh Thiện không còn yêu cầu gì khác.
Qúa trình tham gia tố t ng tại Tòa án, trong quá trình thu thập chứng cứ và tại phiên tòa hôm nay, bị đơn ông Lê Văn Bé N2, trình bày:
Vào buổi chiều ngày 15-04-2017, ông N2 có qua nhà ông Nguyễn Minh H uống rượu, thì con gái ông N2 là cháu Lê Thị Yến V, sinh ngày 30-01-2007 nói ông N2 ra sau nhà ông H hái rau; ông N2 có đi vệ sinh ở bờ ruộng sau nhà anh T2, anh T2 dùng điện thoại chụp hình, quay phim hành vi của ông N2, dẫn đến hai bên có lời qua tiếng lại với nhau. Sau đó ông N2 ra phía trước nhà của ông H uống rượu thì gặp anh T2 ở nhà trước của anh T2, anh T2 dùng chổi quét nhà về hướng nhà ông H bụi bay vào nơi có ông N2 và mọi người đang ăn uống. Lúc này, cháu V, là con gái của ông N2 nói anh T2 không được quét để bụi bay như vậy nhưng anh T2 vẫn quét, do đó cháu V chạy qua nhà anh T2, giật lấy cây chổi anh T2 đang quét, anh T2 đạp vào bụng cháu V. Thấy vậy, ông N2 kéo cháu V ra và xông qua nhà anh T2 tìm đánh anh T2 nhưng giữa ông N2 và anh T2 chỉ xô đẩy nhau. Lúc này, bà L (mẹ anh T2) và chị T1 (vợ anh T2) chạy ra ý định đánh ông N2, nên ông N2 có gạt tay và đẩy bà L, chị T1 ra; còn cháu N1 (con gái anh T2) dùng khúc cây đánh ông Bé N2, do bị đau ông Bé N2 dùng tay gạt con anh T2 ra thì con anh T2 bị té. Sau đó, mọi người có đưa bà L, chị T1, cháu N1 đi bệnh viện, chỉ một ngày sau là xuất viện, chứ ông N2 không cố ý gây thương tích cho bà L, chị T1, cháu N1.
Do đó, ông N2 không đồng ý bồi thường số tiền theo yêu cầu của bà L, chị T1, anh T2 (đại diện em N1 và em P). Ông N2 thừa nhận có lỗi và chỉ đồng ý bồi thường tiền thuốc, chi phí điều trị cho bà L, chị T1, em N1, em P số tiền theo hóa đơn chứng từ, tổng cộng là 1.416.000đ (Một triệu bốn trăm mười sáu ngàn đồng). Còn các khoản khác như bồi thường tổn thất tinh thần, tiền chi phí ăn uống, chi phí thuê mướn người nuôi bệnh,... ông N2 không đồng ý bồi thường.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc: Thống nhất về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát:
Xét thấy, nguyên nhân ban đầu xảy ra mâu thuẫn đánh nhau là do anh T2 dùng điện thoại quay lại việc ông N2 đi vệ sinh tại bờ ruộng gần phía sau nhà anh T2, nên cách xử sự của anh T2 như trên là chưa đúng với cách ứng xử của bà con lối xóm. Do đó hai bên xảy ra cải vả. Do thấy con gái (V) xô xát với anh T2, bà L nên ông N2 cầm chổi, sau đó cầm cây sang nhà tấn công xô bà L, dùng cây đánh vào đầu chị T1, dùng tay đánh cháu N1. Hậu quả gây thương tích cho bà L, chị T1, em N1. Do đó yêu cầu của nguyên đơn đối với ông N2 về bồi thường thiệt hại là có căn cứ.
Tuy nhiên, có những khoản yêu cầu chưa đúng quy định của pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu của bà L, chị T1, em N1 (đại diện là anh T2)
Đối với em P, anh T2 không có căn cứ chứng minh thương tích của em P là do ông N2 gây ra nên không chấp nhận yêu cầu của anh T2 về việc yêu cầu ông N2 bồi thường cho em P.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
V tư cách đương sự::
Do sơ xuất trong khâu xác định tư cách đương sự đối với em Nguyễn Thị Hồng N1, sinh ngày 15-8-2003 và em Nguyễn P, sinh ngày 02-6-2007. Căn cứ theo Khoản 5 Điều 69 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định lại tư cách đương sự của em N1 và em P là nguyên đơn, người đại diện theo pháp luật là anh Nguyễn Hoàng T2, sinh năm 1973, là cha ruột của em N1, em P.
V nội dung tranh chấp:
Xét yêu cầu của anh Nguyễn Hoàng T2 về việc yêu cầu ông Lê Văn Bé N2 bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bà Nguyễn Thị L số tiền 4.062.000 đồng, chị Nguyễn Thị T1 số tiền 4.023.000 đồng, em Nguyễn Thị Hồng N1 số tiền 6.128.000 đồng.
Hội đồng xét xử xét thấy:
Sự việc mâu thuẫn giữa gia đình anh T2, ông N2, sau đó ông N2 có cầm cây xông vào nhà anh T2, các bên ẩu đả, xô xát lẫn nhau là có thật. Ông N2 thừa nhận có xô đẩy, gạt tay bà L, dùng cây đánh vào đầu chị T1, dùng tay đánh em N1, làm em N1 té xỉu xuống ghế, bà L, chị T1, em N1 có đi bệnh viện điều trị thương tích, là có thật. Sự việc trên, ông N2 thừa nhận có lỗi và đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại đến sức khỏe người khác. Căn cứ Điều 92 Bộ luật tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử công nhận tình tiết này.
Hành vi trái pháp luật của ông N2 đã gây thiệt hại, thương tích cho bà L, chị T1, em N1. Theo giấy chứng nhận thương tích ngày 10-5-2017 của Bệnh viện đa khoa Sa Đéc đối với bà Nguyễn Thị L thể hiện: bà L bị đau bàn tay trái, bầm mu mặt lưng bàn tay trái, chẩn đoán: chấn thương bàn tay trái. Giấy chứng nhận thương tích ngày 10-5-2017 của Bệnh viện đa khoa Sa Đéc đối với chị Nguyễn Thị T1 thể hiện chị T1 bị chấn thương đầu do bị đánh. Giấy chứng nhận thương tích ngày 10-5-2017 của Bệnh viện đa khoa Sa Đéc đối với em Nguyễn Thị Hồng N1 thể hiện em N1 bị đa chấn thương.
Nguyên nhân mâu thuẫn từ việc ông N2 có uống rượu, thường xuyên đi vệ sinh gần nhà T2, cách xử sự của anh T2 (quay phim, chụp hình) không tế nhị, dẫn đến thái độ hổn hào của em V đối với bà L, anh T2 muốn bênh vực mẹ nên có hành vi xô đẩy em V, ông N2 bênh vực con nên có hành vi cầm cây xông vào nhà anh T2 xô đẩy bà L té, đánh trúng đầu T1, đánh xô N1, gây thương tích. Thương tích của bà L, chị T1, em N1 là do lỗi của ông N2 gây ra. Do đó, ông N2 phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình gây ra.
Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại:
1. Người nào c hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quy n, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác c liên quan quy định khác.
Do đó, việc anh T2, đại diện nguyên đơn, yêu cầu ông N2 bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bà L, chị T1, em N1 là có căn cứ.
Tuy nhiên: Đối với các khoản mà anh T2 yêu cầu ông N2 bồi thường cho bà L, chị T1, gồm: tiền công lao động 03 ngày là không có căn cứ vì căn cứ giấy nhập viện ra viện của bà L, chị T1 do anh T2 cung cấp thì thời gian điều trị đối với bà L, chị T1 chỉ có 02 ngày nên về tiền công lao động Hội đồng xét xử chấp nhận 02 ngày là có căn cứ. Đối với tiền ăn của bà L, chị T1: Do Hội đồng xét xử đã chấp nhận khoản yêu cầu bồi thường về tiền công lao động bị mất, nên không chấp nhận yêu cầu tiền cơm lúc nằm viện.
Đối với tiền tổn thất tinh thần: Xét nguyên nhân thương tích của bà L, chị T1, em N1 là do ông N2 gây ra trong quá trình hai bên xô xát, ẩu đả với nhau, chứng nhận thương tích không nghiêm trọng, thương tích này không ảnh hưởng đến nghề nghiệp, thẩm mỹ, giao tiếp xã hội, sinh hoạt cá nhân của bà L, chị T1, em N1. Việc anh T2 trình bày: bà L, chị T1, em N1 có biểu hiện hoảng loạn, sợ sệt khi gặp ông N2, ăn ít, mất ngủ, .....nên yêu cầu ông N2 bồi thường tiền tổn thất tinh thần và danh dự, là không có căn cứ, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
Đối với tiền công nuôi bệnh: Qua xác minh đối với chị Nguyễn Thị Anh Đ là con ruột của bà L, chị Đ xác định có giúp anh T2 chăm sóc, nuôi bệnh đối với bà L, chị T1, em N1 trong thời gian điều trị tại bệnh viện. Anh T2 có hứa trả tiền công cho chị Đ, hai bên không có hợp đồng cụ thể. Tuy nhiên, chị Đ có trình bày, chị Đ buôn bán (chả) thu nhập mỗi ngày từ 150.000 đồng đến 200.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy, việc chị Đ có chăm sóc, nuôi bà L, chị T1, em N1 là có thật, tuy nhiên thu nhập của chị Đ không ổn định, do đó Hội đồng xét xử thống nhất lấy mức trung bình theo thu nhận của chị Đ, buộc ông N2 bồi thường tiền công thuê người nuôi bệnh đối với bà L, chị T1, em N1 là 175.000 đồng/ngày x 4 ngày = 700.000 đồng.
Xét yêu cầu của anh T2 về việc yêu cầu ông N2 bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho em Nguyễn P số tiền 3.700.000 đồng.
Hội đồng xét xử xét thấy: Qua hình ảnh các đoạn phim do anh T2 cung cấp, không thấy hình ảnh ông N2 trực tiếp đánh hay xô đẩy gì đối với em P, không gây thương tích cho em P. Anh T2 không có chứng cứ chứng minh thương tích của em P do ông N2 gây ra. Ngoài ra, tại biên bản lời khai ngày 15-5-2017 của Công an xã T đối với chị T1, chị T1 không biết em P bị thương ở chân nào, chứng nhận thương tích xác định Phát đã bỏ viện. Do đó, anh T2 yêu cầu ông N2 bồi thường thiệt hại cho em P là không có cơ sở chấp nhận. Tuy nhiên, tại phiên tòa, ông N2 cũng không xác định thương tích của P có phải do ông N2 gây ra không, do trong lúc xô xát, ông không để ý. Ông N2 tự nguyện bồi thường chi phí điều trị cho em P theo hóa đơn chứng từ tổng cộng 251.000 đồng. Xét thấy sự tự nguyện ông N2 là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Xét ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát: Quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn: buộc ông N2 bồi thường cho bà L 582.000 đồng , chị T1 543.000 đồng (gồm các khoản: chi phí điều trị tại bệnh viện, phí lấy giấy chứng thương, tiền thuốc theo toa, nước uống và sữa, tiền công lao động bị mất, tiền thuê mướn người nuôi bệnh), em N1 878.000 đồng (gồm các khoản: chi phí điều trị tại bệnh viện, phí lấy giấy chứng thương, tiền thuốc theo toa, tiền cơm, tiền nước uống và sữa) là phù hợp với quy định của pháp luật, đúng nội dung vụ án nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với yêu cầu bồi thường cho em P là không có căn cứ, nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận. Tuy nhiên, do ông N2 tự nguyện bồi thường cho em P chi phí điều trị theo hóa đơn nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của ông N2.
Đối với việc ông N2 trình bày có bị phía gia đình anh T2 đánh lên vai, bị đau, em V bị anh T2 đạp vào bụng, có tự mua thuốc điều trị, anh T2 khai trong quá trình xô xát có bị thương ở tay, tuy nhiên, ông N2, em V , anh T2 không yêu cầu bồi thường, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Tại phiên tòa, anh T2 có cung cấp chứng cứ là một đĩa CD ghi lại hình ảnh cự cải giữa hai bên gia đình, ông N2 có hành vi chạy xe rồ ga gây tiếng ồn trước nhà anh T2, gây lo sợ, khủng bố tinh thần đối với bà L, chị T1, em N1, em P nên đề nghị Hội đồng xét xử xử lý nghiêm đối với hành vi xem thường pháp luật của ông N2. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy, những hình ảnh này, chưa đủ căn cứ chứng minh có ảnh hưởng đến tinh thần của các nguyên đơn. Trong trường hợp anh T2 chứng minh được những hành vi của ông N2 có căn cứ gây thiệt hại cho sức khỏe, tinh thần của bà L, chị T1, em N1, em P, hoặc hành vi của ông N2 có vi phạm pháp luật thì có quyền yêu cầu xử lý trong vụ kiện khác.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận một phần nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận. Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu không được chấp nhận (theo quy định tại Điểm d Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.)
Vì các l trên;
QU T ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 6 Điều 26, Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39, Khoản 5 Điều 69, các Điều 91, 92, 147 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 584, 590 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Điểm d Khoản 1 Điều 12, Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu của bà Nguyễn Thị L, chị Nguyễn Thị T1, em Nguyễn Thị Hồng N1, em Nguyễn P (do anh Nguyễn Hoàng T2 đại diện) về việc yêu cầu ông Lê Văn Bé N2 bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bà L số tiền 4.062.000 đồng, chị T1 số tiền 4.023.000 đồng, em N1 số tiền 6.128.000 đồng, em P số tiền 3.700.000 đồng, tổng cộng 14.213.000 đồng.
Buộc ông Lê Văn Bé N2 bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho:
- Bà Nguyễn Thị L số tiền 582.000 đồng;
- Chị Nguyễn Thị T1 số tiền 543.000 đồng;
- Em Nguyễn Thị Hồng N1 số tiền 878.000 đồng.
- Tiền chi phí thuê mướn người nuôi bệnh cho bà L, chị T1, em N1 số tiền
700.000 đồng.
Ghi nhận sự tự nguyện của ông Lê Văn Bé N2 về việc bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho em Nguyễn P. Ông N bồi thường cho em Phát số tiền chi phí điều trị là 251.000 đồng.
(Tổng cộng số tiền ông N2 phải bồi thường cho bà L, chị T1, em N1, em P là 2.954.000 đồng.)
Do em N1, em P chưa thành niên nên anh Nguyễn Hoàng T2, là cha ruột nhận thay tiền bồi thường.
V án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Lê Văn Bé N2 phải chịu 148.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt đại diện hợp pháp của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả của người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự (03 bản); - Viện Kiểm sát nhân dân thành phố S (02 bản); - Tòa án Tỉnh (01 bản); - Chi cục Thi hành án DS TP S (01 bản) - Lưu văn phòng, hồ sơ vụ án (04 bản); | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Kiều Kim Xuân |