- Tranh chấp gì? án hình sự — "LÊ VĂN T - TTTP CHÁT MT - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - N | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 18/2026/HSST Ngày 06 tháng 03 năm 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - N
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hà Thiện Thành
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Phiếu và bà Nguyễn Thị Phương Thiệu
Thư ký toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Bùi Hồng Mơ - là thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 - N.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - N tham gia phiên toà: Bà Vũ Như Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 06/03/2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 3 - N, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 20/2026/HSST ngày 06/02/2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2026/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 02 năm 2026, đối với bị cáo:
Lê Văn T (Tên gọi khác không), sinh năm 1986; tại tØnh N; Nơi cư trú: thôn H, xã Q, tØnh N; số Căn cước công dân 0370****; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 10/12; Giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T vµ bµ Nguyễn Thị C; có vợ Đinh Thị L và có 02 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án Hình sự sơ thẩm số 44/2016/HSST ngày 30/6/2016, của Toà án nhân dân huyện Q, tỉnh N xử phạt 21 tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc” và 21 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 04/QĐ-XLHC ngày 04/01/2012, Công an phường N, thành phố N, tỉnh N, xử phạt 750.000đồng về hành vi "Sử dụng trái phép chất ma túy". Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 39/QĐ-XPHC ngày 27/5/2012, Công an huyện Q, tỉnh N xử phạt vi phạm hành chính, xử phạt 750.000đồng về hành vi "Xâm hại sức khỏe của người khác". Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 17/12/2025, chuyển tạm giam ngày 24/12/2025 tíi nay, tại Trại tạm giam số 1 - Công an tỉnh N. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
* Người làm chứng: Anh Hoàng Văn N và anh Nguyễn Đình P (Đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 17/12/2025, Lê Văn T đi bộ từ nhà ở thôn H, xã Q đến Bến xe Q, để mua ma túy về sử dụng. Tại đây, T gặp và đưa 2.000.000 đồng cho một người đàn ông không quen biết để mua ma túy; người đàn ông cầm tiền rồi đưa cho Tú 01 túi nilon màu trắng có gờ mép màu đỏ, bên trong chứa 10 đoạn ống nhựa màu trắng được dán kín hai đầu. T cầm ở tay phải rồi đi bộ về nhà. Hồi 14 giờ 10 phút cùng ngày, khi T đang đi bộ trên vỉa hè đường Quốc lộ 12B thuộc địa phận thôn H, xã Q, thì gặp Tổ công tác Công an xã Q làm nhiệm vụ yêu cầu kiểm tra. T tự nguyện giao nộp cho lực lượng Công an 01 túi nilon màu trắng kích thước (6x4)cm có gờ mép màu đỏ, bên trong có 10 đoạn ống nhựa màu trắng được dán kín hai đầu, trong cùng của các ống nhựa đều đựng chất dạng tinh thể màu trắng. T khai nhận đó là ma túy, loại Methamphetamine, T mua về để sử dụng cho bản thân. Lực lượng Công an thu giữ và niêm phong 01 túi nilon có đặc điểm nêu trên.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã tiến hành cân xác định khối lượng chất dạng tinh thể màu trắng trong 10 đoạn ống nhựa thu giữ của Lê Văn T có khối lượng là 1,8869 gam lấy mẫu giám định ký hiệu A, để gửi đi xác định khối lượng và giám định chất ma túy.
Tại Kết luận giám định số 108 ngày 23/12/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh N, kết luận:
Mẫu gửi giám định ký hiệu A có khối lượng 1,8869 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.
Methamphetamine là chất ma túy có số thứ tự 247, thuộc bảng Danh mục IIC; Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Hoàn lại đối tượng giám định gồm: Mẫu ký hiệu A còn lại có khối lượng 1,8139 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.
Tại bản Cáo trạng số 42/CT-VKSKV3 ngày 05/02/2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - N đã truy tố Lê Văn T ra trước Tòa án nhân dân khu vực 3 - N để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – N thực hành quyền công tố tại phiên tòa, phát biểu luận tội đã giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như nội dung bản Cáo trạng. Sau khi phân tích đánh giá tính chất nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Văn T từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/12/2025.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ghi số 108/KL-KTHS, bên trong gồm: Chất dạng tinh thể màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu A có khối lượng 1,8139 gam, là ma túy, loại Methamphetamine; toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong; 01 phong bì dán kín niêm phong theo quy định, bên trong gồm: 01 vỏ phong bì niêm phong bên trong có vỏ các đoạn ống nhựa, túi ni lông và phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, là vật chứng thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và vật chứng không còn giá trị sử dụng.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, xác nhận nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
Lời khai của người làm chứng phù hợp với lời khai của bị cáo, phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại phiên tòa bị cáo Lê Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Ninh Bình đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng của vụ án đã được thu hồi, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ 10 phút ngày 17/12/2025, tại khu vực đường Quốc lộ 12B thuộc thôn H, xã Q, tỉnh N, bị cáo Lê Văn T đã có hành vi cất giấu trái phép 1,8869 gam, loại Methamphetamine với mục đích sử dụng cho bản thân, thì bị phát hiện bắt quả tang.
Bộ luật Hình sự quy định:
Điều 249: Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm:
a, ……..;
b, ……..;
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.
…
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản".
. Hành vi của bị cáo Lê Văn T đã nêu trên là phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - tỉnh N truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma tuý, tác động rất xấu đến trật tự trị an và an toàn xã hội, có thể là một trong các nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác, gây ảnh hưởng đến sức khỏe, trí tuệ và sự phát triển bình thường của nòi giống, làm khánh kiệt kinh tế của người sử dụng chất ma túy, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử phạt nghiêm minh để giáo dục cải tạo bị cáo và là bài học răn đe phòng ngừa chung cho xã hội. Mức hình phạt áp dụng được căn cứ vào tính chất tội phạm, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo trong vụ án để quyết định cho phù hợp.
. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lê Văn T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, đưa ra tại phiên tòa, đó là: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có bố là thương binh và được Nhà nước tặng thưởng Huân, Huy chương kháng chiến trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đây là những tình tiết được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; cần được áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
. Về nhân thân: Lê Văn T từng bị kết án, nhưng đã được đương nhiên xóa án tích, nên được coi như chưa bị kết án theo quy định tại Điều 70 Bộ luật Hình sự và từng bị xử phạt vi phạm hành chính, đã chấp hành xong quyết định xử phạt vi phạm hành chính trên một năm, nên được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 7 Luật xử lý vi phạm hành chính.
. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, cần phải cách ly bÞ c¸o ra khái ®êi sèng x· héi mét thêi gian, t ¬ng xøng víi hµnh vi mµ bÞ c¸o ®· g©y ra, míi cã t¸c dông gi¸o dôc, c¶i t¹o vµ n©ng cao c«ng t¸c phßng ngõa chung, ®Ó thÓ hiÖn tÝnh nghiªm minh cña ph¸p luËt.
. VÒ h×nh ph¹t bæ sung: Xét bị cáo Lê Văn T là người sử dụng ma túy, tàng trữ trái phép chất ma tóy nhằm mục đích sử dụng, không mang tính vụ lợi, không có tài sản gì có giá trị, nên không áp dụng hình phạt bổ xung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
Đối với 01 phong bì ghi số 108/KL-KTHS, bên trong gồm: Chất dạng tinh thể màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu A có khối lượng 1,8139 gam, là ma túy, loại Methamphetamine; toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong; 01 phong bì dán kín niêm phong theo quy định, bên trong gồm: 01 vỏ phong bì niêm phong bên trong có vỏ các đoạn ống nhựa, túi ni lông và phong bì niêm phong vật chứng ban đầu. Đây là vật chứng của vụ án thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và vật chứng không còn giá trị sử dụng. Do vậy, cần tịch thu tiêu hủy.
. Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Lê Văn T ngày 17/12/2025 (theo lời khai của Tú). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã tiến hành điều tra, xác minh, nhưng không đủ căn cứ để xác định, xử lý.
VÒ ¸n phÝ: Bị c¸o ph¶i chÞu ¸n phÝ hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
V× c¸c lÏ trªn.
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xö ph¹t bÞ c¸o Lê Văn T 04 (Bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù, tính từ ngày bắt bị cáo tạm giữ 17/12/2025.
2. Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ghi số 108/KL-KTHS, bên trong gồm: Chất dạng tinh thể màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu A có khối lượng 1,8139 gam, là ma túy, loại Methamphetamine; toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong; 01 phong bì ký hiệu B niêm phong theo quy định, bên trong gồm: vỏ đoạn ống nhựa, túi ni lông và phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, là vật chứng thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và vật chứng không còn giá trị sử dụng.(Đặc điểm các vật chứng tịch thu tiêu hủy theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 09/02/2026, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N và Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 3 – N).
3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo Lê Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn) án phí Hình sự sơ thẩm.
4. Về Quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự”.
N¬i nhËn:
| - TAND tØnh N; - VKSND tỉnh N; - Phòng PC01, PC10 CA tỉnh N; - VKSND khu vực 3 – N; - Sở tư pháp tỉnh N; - THA.DS tỉnh N; - BÞ c¸o; - L u hå s¬, v¨n phßng; (Th«ng b¸o cho chÝnh quyÒn ®Þa ph ¬ng n¬i bÞ c¸o c tró). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Thiện Thành |