vanban.org

Bản án 18/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Không đặt ra giải quyết. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự - trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 9 - HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2026/HS - ST
Ngày: 11 - 3 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Hậu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Minh và bà Mạc Thị Lan.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Mai Hoa - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 9 - Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Hải Phòng: Ông Nguyễn Anh Đức - Kiểm sát viên.

- Cán bộ hỗ trợ tổ chức phiên toà trực tuyến:

+ Ông Nguyễn Văn Sáng - Cán bộ Toà án nhân dân khu vực 9 - Hải Phòng.

+ Bà Nguyễn Thị Khánh - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Hải Phòng.

+ Ông Đào Văn Đình và ông Nguyễn Huy Toàn - Cán bộ trại tạm giam số 2 - Công an thành phố Hải Phòng.

Ngày 11 tháng 3 năm 2026, tại điểm cầu trung tâm là trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 - Hải Phòng và điểm cầu thành phần là Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố Hải Phòng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 12/2026/TLST - HS ngày 11 tháng 02 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2026/QĐXXST - HS ngày 24 tháng 02 năm 2026 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đồng Bá H, sinh ngày 25/6/1994; số căn cước công dân: 030094010363; nơi cư trú: Tổ dân phố K, phường Trần Nhân Tông, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đồng Bá D và bà Đồng Thị L; Tiền sự: Không; Tiền án: 01 tiền án (Bản án số 327/2024/HSST ngày 24/10/2024 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử phạt Đồng Bá H 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự. Ngày 12/01/2025 H chấp hành xong hình phạt tù, ngày 24/10/2024 Huấn nộp án phí Hình sự sơ thẩm).

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 10/12/2025, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố Hải Phòng. Có mặt tại phiên toà.

* Bị hại: Anh Nguyễn Phục L1, sinh ngày 13/01/1992 và chị Nguyễn Thị L2, sinh ngày 03/6/1994; nơi ĐKTT: Số nhà 19, thôn T, xã Quảng Tân, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở: Số nhà 37, đường N, tổ dân phố T2, phường Chu Văn An, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 05 phút, ngày 06/12/2025, Đồng Bá H (có 01 tiền án về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” chưa được xóa án tích) đi bộ trên đường N, tổ dân phố T2, phường Chu Văn An, thành phố Hải Phòng thì thấy quán mỹ phẩm Star, có địa chỉ tại số nhà 37, đường N không có người trông coi nên H nảy sinh ý định vào quán xem có tài sản hoặc tiền để trộm cắp. Khi mở cửa đi vào, H thấy tại ban thờ thần tài đang đặt dưới nền nhà cạnh cửa ra vào có để tiền. Quan sát thấy không có người lên H đã lấy số tiền trên cho vào túi quần bên trái H đang mặc trên người. Khi H lấy tiền xong thì anh Nguyễn Phục L1 là chủ quán đi vào quán. Anh L1 tưởng H vào mua mỹ phẩm nên hỏi “anh mua gì” thì H nói với anh L1 là mua nước tẩy trang. Anh L1 gọi điện thoại cho vợ là chị Nguyễn Thị L2 để hỏi thông tin về sản phẩm nhưng chị L2 không nghe máy nên H hẹn mai quay lại rồi ra về. Khi H đi ra cách quán khoảng 20 m thì anh L1 thấy ban thờ thần tài bị mất tiền, nghi ngờ H trộm cắp tài sản của vợ chồng anh nên đã đuổi theo giữ H lại và mời Công an phường Chu Văn An, thành phố Hải Phòng đến làm việc. Tại trụ sở Công an, H thừa nhận toàn bộ hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản và giao nộp lại số tiền 704.000 đồng vừa chiếm đoạt.

Tại bản cáo trạng số 44/CT- VKS ngày 10/02/2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Hải Phòng truy tố Đồng Bá H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

- Tại phiên toà:

Bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên, thừa nhận việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Hải Phòng đối với bị cáo là đúng và xin được giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Hải Phòng trình bày luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo: Đồng Bá H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s, h khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đồng Bá H từ 07 tháng đến 10 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 10/12/2025. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Không đặt ra giải quyết. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của bị hại và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Nên Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 21 giờ 05 phút ngày 06/12/2025, tại quán mỹ phẩm Star có địa chỉ tại số nhà 37, đường N, tổ dân phố T2, phường Chu Văn An, thành phố Hải Phòng, Đồng Bá H (có 01 tiền án về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” chưa được xoá án tích) đã có hành vi lén lút chiếm đoạt số tiền 704.000 đồng của anh Nguyễn Phục L1 và chị Nguyễn Thị L2 thì bị anh L1 phát hiện.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự và bức xúc trong nhân dân, ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là trái pháp luật, bị nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện vì mục đích tư lợi. Tuy tài sản bị cáo chiếm đoạt dưới 2.000.000 đồng, nhưng bị cáo có 01 tiền án về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” chưa được xóa án tích nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Hải Phòng đối với bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xem xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy rằng: Bị cáo là người có nhân thân xấu nhưng không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận tội, ngoài ra số tiền bị cáo chiếm đoạt không lớn (dưới 2.000.000 đồng) nên bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian, tương xứng với tính chất hành vi mà bị cáo đã thực hiện để trừng trị, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội và răn đe, phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản và thu nhập nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, xác định không bị thiệt hại gì và không yêu cầu giải quyết về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo nên không đặt ra xem xét.

Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra Công an phường Chu Văn An đã trả lại cho L1 và chị L2 là chủ sở hữu số tiền 704.000 đồng nên không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s, h khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Đồng Bá H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Đồng Bá H 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 10/12/2025.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Đồng Bá H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ