vanban.org

Bản án 18/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Bà Nguyễn Thị M .

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho Bà Nguyễn Thị M được ly hôn ông Nguyễn Văn D. Về con chung: Có 03 con chung là chị Nguyễn Thị H, sinh ngày 25/12/1980, chị Nguyễn Thị Thanh G, sinh ngày 13/5/1983, chị Nguyễn Thanh K, sinh ngày 18/7/1985, hiện nay các con của ông bà đều đã thành niên (đủ 18 tuổi) và có kh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn Nguyễn Thị M và Nguyễn Văn D"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Bà Nguyễn Thị M .
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 26-3-2026.
V/v: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Anh Đức.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lý Thị Dung.

Ông Nguyễn Văn Quỳnh.

- Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hân - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 3 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 42/2026/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 01 năm 2026 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 02 năm 2026; Quyết định hoãn phiên tòa số: 17/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2026 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1961.

Địa chỉ: Tiểu khu x, xã PY, tỉnh Sơn La – Có mặt.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1960.

Địa chỉ: Tiểu khu x, xã PY, tỉnh Sơn La - Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai đề ngày 17/11/2025 nguyên đơn bà Nguyễn Thị M trình bày như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị M và ông Nguyễn Văn D về sống chung với nhau ngày 15/10/1979, có đăng ký kết hôn tại Cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Khi kết hôn hai ông, bà đã đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không thuộc các trường hợp cấm kết hôn. Cuộc sống chung của vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc đến tháng 11 năm 1984 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do ông, bà bất đồng quan điểm sống từ đó phát sinh nhiều mâu thuẫn trong gia đình. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được gia đình hai bên hoà giải nhưng không thành. Hai ông, bà đã sống ly thân từ năm 2025 cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn bà Nguyễn Thị M làm đơn đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với ông Nguyễn Văn D.

Về con chung: Có 03 con chung là chị Nguyễn Thị H, sinh ngày 25/12/1980, chị Nguyễn Thị Thanh G, sinh ngày 13/5/1983, chị Nguyễn Thanh K, sinh ngày 18/7/1985, hiện nay các con của ông bà đều đã trên 18 tuổi, có khả năng lao động, bà Nguyễn Thị M không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản riêng: Tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Tự thỏa thuận phân chia, thanh toán, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị M đề nghị được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

Tại biên bản xác minh với chính quyền địa phương và biên bản làm việc với người thân của ông Nguyễn Văn D xác định: Ông Nguyễn Văn D và bà Nguyễn Thị M có đăng ký hết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền năm 1979. Quá trình vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2025 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông bà bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã. Mâu thuẫn đã được gia đình 2 bên và chính quyền địa phương hòa giải nhiều lần nhưng không đạt được kết quả. Hiện nay ông bà đã sống ly thân, mâu thuẫn là rất trầm trọng. Ông bà có 03 con, hiện nay các con ông bà đều đã đã trên 18 tuổi, có khả năng lao động, về tài sản chung, tài sản riêng, vay nợ chung đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử theo đúng quy định của pháp luật.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Sơn La như sau:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng như sau:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký Tòa án: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi xét xử, nghị án Thẩm phán và Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên toà sơ thẩm.

+ Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng:

Đối với nguyên đơn, từ khi thụ lý vụ án đến phiên toà ngày hôm nay nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình.

Đối với bị đơn sau khi thụ lý vụ án bị đơn đã được, đã được tống đạt các văn bản tố tụng của Toà án, đã được Tòa án triệu tập lần thứ hai nhưng cố tình vắng mặt. Do đó Toà án áp dụng khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án là đúng với quy định của pháp luật.

Căn cứ Điều 56, 59 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 4 Điều 147; Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xử cho bà Nguyễn Thị M được ly hôn với ông Nguyễn Văn D.

- Về con chung: Có 03 con, hiện nay các con ông bà đều đã đã trên 18 tuổi, có khả năng lao động, bà Nguyễn Thị M không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí: Bà Nguyễn Thị M được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Bà Nguyễn Thị M có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết về việc tranh chấp ly hôn với ông Nguyễn Văn D. Ông Nguyễn Văn D có địa chỉ cư trú tại Tiểu khu x, xã PY, tỉnh Sơn La. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5 – Sơn La.

Bị đơn ông Nguyễn Văn D đã được Toà án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Văn D đã cố tình trốn tránh, không chấp hành giấy triệu tập của Toà án. Toà án đã tiến hành xác minh với chính quyền địa phương và gia đình ông Nguyễn Văn D về việc tống đạt văn bản tố tụng của Toà án đối với ông Nguyễn Văn D. Gia đình và chính quyền địa phương xác nhận có nhận được các văn bản tổ tụng của Toà án, đã thông báo, giải thích, động viên, thuyết phục để anh Nguyễn Văn D chấp hành theo đúng quy định của pháp luật.

Ông Nguyễn Văn D biết bà Nguyễn Thị M khởi kiện ly hôn nhưng cố tình không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án. Chứng tỏ ông Nguyễn Văn D đã tự từ bỏ quyền tham gia tố tụng của mình. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử là hoàn toàn đúng theo quy định của pháp luật. Sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định pháp luật.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị M và ông Nguyễn Văn D kết hôn với nhau ngày 15 tháng 10 năm 1979 thì đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Khi kết hôn hai ông, bà đã đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện không thuộc các trường hợp cấm kết hôn, tại Tòa án nhân dân khu vực 5 – Sơn La và trong quá trình Tòa án giải quyết bà Nguyễn Thị M không xuất trình được giấy đăng ký kết hôn theo quy định, tuy nhiên thời điểm ông, bà sống chung với nhau là ngày 15/10/1979, theo quy định tại Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/9/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình thì trường hợp của ông, bà là hôn nhân thực tế. Do đó quan hệ hôn nhân của chị Nguyễn Thị M và anh Nguyễn Văn D là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Cuộc sống chung của vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc đến tháng 9 năm 2025 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do ông, bà bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Mâu thuẫn của vợ chồng ông, bà chị đã được gia đình hai bên khuyên ngăn, hoà giải nhưng không có kết quả, hai anh, chị đã sống ly thân từ đó cho đến nay, không bên nào chăm lo đến cuộc sống chung của gia đình nữa. Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị M và ông Nguyễn Văn D đã lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Cần áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, xử cho chị Nguyễn Thị M được ly hôn anh Nguyễn Văn D.

Về con chung: Có 03 con chung là chị Nguyễn Thị H, sinh ngày 25/12/1980, chị Nguyễn Thị Thanh G, sinh ngày 13/5/1983, chị Nguyễn Thanh K, sinh ngày 18/7/1985, hiện nay các con của ông bà đều đã trên 18 tuổi, có khả năng lao động, bà Nguyễn Thị M không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, tài sản riêng và nợ chung: Ông, bà tự thỏa thuận phân chia, thanh toán, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Tài sản riêng: Tự thỏa thuận phân chia, thanh toán, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị M được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật do là người cao tuổi, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, là người cao tuổi.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 59 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 4 Điều 147; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Bà Nguyễn Thị M .

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho Bà Nguyễn Thị M được ly hôn ông Nguyễn Văn D.

2. Về con chung: Có 03 con chung là chị Nguyễn Thị H, sinh ngày 25/12/1980, chị Nguyễn Thị Thanh G, sinh ngày 13/5/1983, chị Nguyễn Thanh K, sinh ngày 18/7/1985, hiện nay các con của ông bà đều đã thành niên (đủ 18 tuổi) và có khả năng lao động, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận phân chia, không đề nghị Tòa án giải quyết.

4. Về tài sản riêng: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

5. Về nợ chung: Tự thỏa thuận, phân chia, thanh toán, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

6. Về án phí: Bà Nguyễn Thị M được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

7. Đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ