vanban.org

Bản án 18/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Mỹ H đối với ông Lưu Đức T1 về việc ly hôn và tranh chấp về nuôi con.

Về hôn nhân: cho bà Võ Thị Mỹ H ly hôn với ông Lưu Đức T1. Về nuôi con chung: ông Lưu Đức T1 có trách nhiệm giao con chung tên Lưu Gia K, sinh ngày 04 tháng 4 năm 2023 cho bà Võ Thị Mỹ H trực tiếp nuôi. Bà Võ Thị Mỹ H không yêu cầu ông Lưu Đức T1 cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Võ Thị Mỹ H - Lưu Đức T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Mỹ H đối với ông Lưu Đức T1 về việc ly hôn và tranh chấp về nuôi con.
  • Căn cứ chính? Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 19 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 10-3-2026
V/v ly hôn và tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 19 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Kim Xuyến.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Độ;

Bà Võ Thị Thu Thảo.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Quế Trâm, là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 19 - Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 19 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Ngọc Tuyết - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 19 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 249/2025/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 12 năm 2025 về ly hôn và tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 01 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2026/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2026, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Võ Thị Mỹ H, sinh năm 2001; hộ khẩu thường trú: tổ E, ấp Ông T, xã T, Thành phố Hồ Chí Minh; cư trú tại: tổ I, khu phố C, phường C, tỉnh Đồng Nai, có mặt.

2. Bị đơn: Ông Lưu Đức T1, sinh năm 1990; cư trú tại: tổ E, ấp Ô, xã T, Thành phố Hồ Chí Minh, đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện ngày 17 tháng 11 năm 2025, các lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Võ Thị Mỹ H trình bày:

Về hôn nhân: bà H và ông T1 tổ chức lễ cưới năm 2022, đăng ký kết hôn ngày 28 tháng 6 năm 2023 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện B, tỉnh Bình Dương (nay là xã T, Thành phố Hồ Chí Minh); hôn nhân tự nguyện. Sau khi cưới, vợ chồng sống cùng cha mẹ ông T1 ở ấp Ông T, xã C, huyện B, tỉnh Bình Dương (nay là ấp Ông T, xã T, Thành phố Hồ Chí Minh). Quá trình chung sống vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân ông T1 hay ghen tuông vô cớ, thường xuyên uống rượu rồi về gây sự chửi mắng vợ con, xúc phạm gia đình vợ; ông T1 làm nghề cưa cây nhưng mỗi tháng ông T1 đưa tiền cho vợ không đủ lo cho gia đình. Bà H đã khuyên nhủ nhiều lần nhưng ông T1 không thay đổi, vợ chồng không còn tiếng nói chung. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên bà H đã về nhà mẹ ở phường C, tỉnh Đồng Nai sống từ tháng 10 năm 2025 đến nay. Nhận thấy hôn nhân của bà H và ông T1 không hạnh phúc nên bà H yêu cầu ly hôn với ông T1.

Về nuôi con chung: vợ chồng có 01 con chung tên Lưu Gia K, sinh ngày 04 tháng 4 năm 2023, đang sống cùng bà H. Bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu K và không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con. Bà H hiện đang làm công nhân, thu nhập mỗi tháng hơn 8.000.000 đồng.

Về tài sản chung và nợ chung: bà H không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Lưu Đức T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để lấy lời khai, tham gia tố tụng và tham gia phiên tòa nhưng ông T1 đều vắng mặt không lý do. Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông T1.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và về việc giải quyết vụ án: quá trình giải quyết vụ án, việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng, Tòa án nhân dân khu vực 19 - Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:

Về tố tụng: bị đơn ông T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không lý do, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông T1.

Về yêu cầu của nguyên đơn:

Về hôn nhân: hôn nhân của bà H và ông T1 là hôn nhân hợp pháp. Bà H khai vợ chồng từ khi chung sống đã phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân do ông T1 ghen tuông vô cớ, thường xuyên uống rượu rồi về gây sự chửi mắng vợ con, xúc phạm gia đình vợ; mỗi tháng ông T1 đóng góp tiền không đủ chăm lo cho gia đình; từ đó vợ chồng không còn tiếng nói chung. Bà H và ông T1 đã sống ly thân từ tháng 10 năm 2025 đến nay. Vì vậy, bà H khởi kiện yêu cầu ly hôn ông T1 theo quy định tại khoản 1 Điều 51 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Xét thấy, bà H và ông T1 là vợ chồng nhưng đã không còn sống chung với nhau, không còn thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau là đã không giữ gìn tình nghĩa vợ chồng theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Ông T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bỏ mặc không tham gia tố tụng, không trình bày ý kiến tại Tòa đối với yêu cầu ly hôn của bà H. Xét thấy hôn nhân của bà H và ông T1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được; căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử quyết định cho bà H và ông T1 ly hôn.

Về nuôi con chung: bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung tên Lưu Gia K, sinh ngày 04 tháng 4 năm 2023. Xét thấy: hiện cháu K dưới 36 tháng tuổi và đang sống cùng bà H, bà H có công việc, thu nhập ổn định. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H, ông T1 có trách nhiệm giao cháu K cho bà H trực tiếp nuôi theo quy định khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Bà H không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng cho con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Ông T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại khoản 3 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình. Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và giải quyết về cấp dưỡng khi có yêu cầu theo quy định tại Điều 84, Điều 107, Điều 110 và Điều 116 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về chia tài sản và nợ chung: bà H và ông T1 không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Xét ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc tuân theo pháp luật tố tụng và về việc giải quyết vụ án là phù hợp.

Về án phí: bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, khoản 3 Điều 81, khoản 3 Điều 82, Điều 84, Điều 107, Điều 110 và Điều 116 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 6 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Mỹ H đối với ông Lưu Đức T1 về việc ly hôn và tranh chấp về nuôi con.

Về hôn nhân: cho bà Võ Thị Mỹ H ly hôn với ông Lưu Đức T1.

Về nuôi con chung: ông Lưu Đức T1 có trách nhiệm giao con chung tên Lưu Gia K, sinh ngày 04 tháng 4 năm 2023 cho bà Võ Thị Mỹ H trực tiếp nuôi. Bà Võ Thị Mỹ H không yêu cầu ông Lưu Đức T1 cấp dưỡng nuôi con.

Ông Lưu Đức T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và giải quyết về cấp dưỡng khi có yêu cầu.

Về chia tài sản và nợ chung: bà Võ Thị Mỹ H và ông Lưu Đức T1 không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí: bà Võ Thị Mỹ H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền số 0042454 ngày 26 tháng 11 năm 2025 của Thi hành án dân sự Thành phố H. Bà Võ Thị Mỹ H đã nộp xong án phí.

3. Về quyền kháng cáo: nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ