vanban.org

Bản án 18/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Về quan hệ hôn nhân: Ông S, Can và bà Đinh Thị Ngọc Y được ly hôn.

[2] Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Ông S, Can và bà Đinh Thị Ngọc Y khai không có nên không đề cập giải quyết trong vụ án này. [3] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông S, C-Chan phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? [1] Về quan hệ hôn nhân: Ông S, Can và bà Đinh Thị Ngọc Y được ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 12- CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 21/01/2026
V/v Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán –Chủ tọa phiên tòa: Ông Châu Thanh Quyền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Qui

Bà Hồ Thị Út

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 - Cần Thơ.

Ngày 21 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 – Cần Thơ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 92/2025/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2025 về tranh chấp ly hôn Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 01 năm 2026 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông S, C1an, sinh năm: 1966; Địa chỉ: số I, lộ T, khóm E, phố Đ, thành phố C, Đài Loan (có yêu cầu giải quyết vắng mặt).

2. Bị đơn: Bà Đinh Thị Ngọc Y, sinh năm: 1993; Địa chỉ: ấp B, xã V, thành phố Cần Thơ (có yêu cầu giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng nguyên đơn ông S, C-Chan trình bày: Ông S, Can và bà Đinh Thị Ngọc Y tự nguyện đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật Việt Nam tại Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Hậu Giang (nay là thành phố Cần Thơ) vào ngày 15/5/2025 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 33, chung sống với nhau một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn.

Nguyên nhân mâu thuẫn: Trong thời gian chung sống, vợ chồng bất đồng quan điểm, ngôn ngữ nên tình cảm vợ chồng rạn nứt, hiện nay vợ chồng đã không còn liên lạc qua lại với nhau. Nhận thấy, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông S, C-Chan nên yêu cầu ly hôn với bà Đinh Thị Ngọc Y.

Về con chung, về tài sản chung, nợ chung: Không có, nên không yêu cầu giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Đinh Thị Ngọc Y trình bày: Bà Đinh Thị Ngọc Y thống nhất ly hôn với ông S, Can. Về con chung, về tài sản chung, nợ chung: Không có, nên không yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ đã thể hiện trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại tòa án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Nguyên đơn yêu cầu ly hôn nên xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp ly hôn”, bị đơn có nơi cư trú tại xã V nên Tòa án nhân dân khu vực 12 – Cần Thơ giải quyết là đúng thẩm quyền theo Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông S, C-Chan và bà Đinh Thị Ngọc Y có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Ông S, Can và bà Đinh Thị Ngọc Y tự nguyện đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật Việt Nam tại Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Hậu Giang (nay là thành phố Cần Thơ) vào ngày 15/5/2025 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 33 nên hôn nhân của ông bà là hợp pháp.

Trong thời gian chung sống, vợ chồng bất đồng quan điểm, ngôn ngữ nên tình cảm vợ chồng rạn nứt, hiện nay vợ chồng đã không còn liên lạc qua lại với nhau. Ông S, C-Chan cương quyết ly hôn với bà Đinh Thị Ngọc Y. Bà Đinh Thị Ngọc Y cũng đồng ý ly hôn. Từ đó cho thấy, mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân giữa ông bà là trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của ông S, Can.

Về con chung, về tài sản chung, nợ chung: Ông S, Can và bà Đinh Thị Ngọc Y khai không có nên không đề cập giải quyết trong vụ án này.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông S, Can phải nộp số tiền 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 273, Điều 476, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56; Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Ông S, Can và bà Đinh Thị Ngọc Y được ly hôn.

[2] Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Ông S, Can và bà Đinh Thị Ngọc Y khai không có nên không đề cập giải quyết trong vụ án này.

[3] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông S, C-Chan phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0004927 ngày 09 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ. Ông S, C1an đã nộp xong án phí sơ thẩm.

[4] Bà Đinh Thị Ngọc Y vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật. Ông S, C1an có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ