- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vàng A H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vàng A H phạm tội: "Trộm cắp tài sản".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 103 Bộ luật Tố tụng hình sự sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – ĐIỆN BIÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 18/2025/HS-ST Ngày 04-9-2025 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Nhung
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Hiền
Ông Khoàng Văn Sơn
- Thư ký phiên tòa: Ông Lò Văn Lâm - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5-Điện Biên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Phùng Việt Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 04/9/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Điện Biên mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 13/2025/TLST-HS ngày 04/8/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXXST-HS ngày 22/8/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vàng A H; Sinh năm 1989 tại xã N, tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: Bản C, xã N, tỉnh Điện Biên; Số CCCD: 011089006083, Cục cảnh sát QLHC về TTXH cấp ngày 22/12/2021; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vàng Chùng Ch và bà Hồ Thị S; Có vợ là Hồ Thị G và có 04 con; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Nhân thân: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 18/4/2025 đến ngày 27/4/2025, tạm giam từ ngày 27/4/2025 đến nay, có mặt.
Bị hại: Anh Sùng Giảng V, sinh năm 1979, trú tại: Bản N, xã M, tỉnh Điện Biên, vắng mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Anh Đoàn Thanh N, sinh năm 1987, trú tại: xã N, tỉnh Điện Biên, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào sáng ngày 16/4/2025, Vàng A H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 27V1-118.45 đi từ nhà tại bản C, xã N, tỉnh Điện Biên đi lên khu vực bản H, xã Ch, tỉnh Điện Biên để tìm mua trâu. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày H đi xe mô tô đến khu vực đầu bản H, xã Ch nhưng chưa mua được trâu. Hạng để xe mô tô ở cạnh đường rồi đi bộ qua bản H tiếp tục tìm mua trâu, H đi đến khu vực đồi thuộc bản H thì thấy 02 con trâu đực được xỏ mũi bằng dây thừng được buộc ở hai gốc cây cách nhau khoảng 03 mét thấy không có người trông coi nên H đã nảy sinh ý định bắt trộm 02 con mang đi bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Vàng A H đi đến gần con trâu đực được xỏ dây thừng ở mũi một đầu dây buộc vào gốc cây H dùng hai tay cởi dây ra dắt gần vào gần con trâu thứ hai, H đi đến gần gốc cây thứ hai dùng hai tay cởi dây ra, khi cởi dây xong H buộc hai đầu dây lại với nhau sau đó H dắt con trâu đực khoảng 05 tuổi đi trước, con khoảng 06 tuổi dắt theo sau đi về theo đường cũ. H dắt trâu đi qua bản H, H lấy điện thoại gọi cho anh Đoàn Thanh N (nhà ở xã N, tỉnh Điện Biên) qua số điện thoại 0975171187 để thuê xe N chở trâu ra thành phố Điện Biên Phủ bán, nghe vậy N đồng ý. H và Đoàn Thanh N thống nhất trả tiền thuê chở trâu đi Điện Biên là 2.000.000 đồng và hẹn N đến chở ở khu vực bản H. Vàng A H dắt 02 con trâu đến buộc vào gốc cây ở bãi đất trống ven đường ô tô thuộc bản H, xã Ch, tỉnh Điện Biên. Khoảng 13 giờ cùng ngày N điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 27C - 035.51 đến chỗ H đang đợi, H và N cùng dắt 02 con trâu lên thùng xe tải. H bảo anh N điều khiển xe ô tô đi về nhà N chờ. Vàng A H đi xe mô tô đến nhà Đoàn Thanh N ở xã N, tỉnh Điện Biên cùng với N lên xe ô tô chở 02 con trâu đi về thành phố Điện Biên Phủ để bán. Đoàn Thanh N điều khiển xe ô tô đến Km 174 Quốc lộ 12 thuộc bản M, xã M, tỉnh Điện Biên thì bị tổ tuần tra, kiểm soát giao thông (Đội 2) Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Điện Biên phối hợp với Công an xã Huổi Lèng (nay là Công an xã Mường Tùng) dừng xe kiểm tra, phát hiện xe của N chở 02 con trâu. Vàng A H sợ bị phát hiện hành vi trộm cắp nên đã bỏ chạy về nhà. Tổ công tác đã lập biên vụ việc, tạm giữ hai con trâu và vật chứng liên quan.
Ngày 17/4/2025 Vàng A H đã đến Công an xã M đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vị trộm cắp tài sản của mình.
Quá trình điều tra đã làm rõ hai con trâu Vàng A H trộm cắp là thuộc quyền sở hữu của anh Sùng Giảng V, trú tại bản N, xã M, tỉnh Điện Biên.
Kết luận định giá tài sản số 09/KL-HĐĐGTS ngày 25/6/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự - UBND huyện Nậm Pồ đã kết luận: 01 con trâu đực, khoảng 05 tuổi, có màu lông đen, sừng dài khoảng 60 cm có giá 28.300.000 đồng và 01 con trâu đực, khoảng 06 tuổi, lông màu đen, sừng dài khoảng 55 cm có giá 26.600.000 đồng. Tổng giá trị tài sản 02 con trâu là 54.900.000 đồng.
Cơ quan điều tra đã tạm giữ những vật chứng sau: 01 con trâu đực, có lông màu đen, khoảng 05 tuổi, sừng dài khoảng 60 cm; 01 con trâu đực, có lông màu đen, khoảng 06 tuổi, sừng dài khoảng 55 cm; 01 xe mô tô nhãn hiêu HONDA WAVE RSX biển kiểm soát 27V1 - 118.45 màu xanh, đen xe cũ đã qua sử dụng; 01 xe ô tô tải nhãn hiệu THACO biển kiểm soát 27C - 035.51, màu sơn xanh, tải trọng 2,4 tấn xe cũ đã qua sử dụng; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 27C - 035.51 mang tên Đoàn Thanh N; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ ô tô biển kiểm soát 27C - 035.51.
Quyết định xử lý vật chứng số 1561 ngày 26/4/2025 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên: Trả lại 02 con trâu đực lông màu đen cho cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Sùng Giảng V, trú tại bản N, xã M, tỉnh Điện Biên.
Quyết định xử lý vật chứng số 1870 ngày 09/5/2025 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên: Trả lại cho anh Đoàn Thanh N: 01 xe ô tô tải biển kiểm soát 27C - 035.51 nhãn hiệu THACO, màu sơn xanh, tải trọng 2,4 tấn xe cũ đã qua sử dụng, 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 27C - 035.51 mang tên Đoàn Thanh N, 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ.
Đối với chiếc điện thoại màn hình cảm ứng nhãn hiệu OPPO màu xanh có gắn thẻ sim bên trong có số thuê bao 0816847232, bị cáo dùng để liên lạc với anh Nam thuê xe chở trâu đi bán, quá trình bỏ chạy Vàng A H đã đánh rơi, Cơ quan CSĐT- Công an tỉnh Điện Biên đã truy tìm nhưng không thu giữ được.
Cáo trạng số 12/CT-VKSKV5 - Điện Biên ngày 04/8/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Điện Biên đã truy tố Vàng A H để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Cáo trạng truy tố, phần luận tội đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự; khoản 4 Điều 328 BLTTHS: Xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách với bị cáo; Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo; Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự: đề nghị ghi nhận sự tự nguyện bồi thường tiền công đi tìm kiếm trâu của gia đình bị cáo đối với bị hại Sùng Giảng V. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội, đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã tóm tắt ở trên và đúng như cáo trạng truy tố. Bị cáo không tranh luận gì với luận tội của Viện kiểm sát. Lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo.
Bị hại anh Sùng Giảng V vắng mặt tại phiên tòa, các lời khai trong hồ sơ vụ án thể hiện: Anh V là chủ sở hữu hợp pháp của 02 con trâu đực bị mất. Gia đình đã nhận lại 02 con trâu đực bị mất trên. Về trách nhiệm hình sự đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Ngày 17/7/2025 gia đình đã nhận được tiền công tìm kiếm 02 con trâu là 1.600.000 đồng, không có đề nghị gì thêm.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Đoàn Thanh N vắng mặt tại phiên tòa, các lời khai trong hồ sơ thể hiện: Anh N là người đã dùng xe xe ô tô tải biển kiểm soát 27C - 035.51 nhãn hiệu THACO để nhận chở thuê hai con trâu cho bị cáo H để mang đi bán, khi nhận chở thuê anh N hoàn toàn không biết hai con trâu trên là do H trộm cắp mà có. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Điện Biên đã trả lại cho anh N 01 xe ô tô tải biển kiểm soát 27C - 035.51 nhãn hiệu THACO, màu sơn xanh, tải trọng 2,4 tấn xe cũ đã qua sử dụng, 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 27C - 035.51 mang tên Đoàn Thanh N, 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ. Anh N không yêu cầu bị cáo H trả tiền công mà bị cáo H đã thuê anh N chở trâu cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa (có đơn xin xét xử vắng mặt) nhưng đã có đầy đủ lời khai, ý kiến trong hồ sơ, xét thấy sự vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Xét hành vi phạm tội và những căn cứ xác định tội danh của bị cáo:
Tại phiên tòa bị cáo khai: Vào ngày 16/4/2025 bị cáo đã có hành vi trộm cắp 02 con trâu đực lông màu đen (trong đó 01 con trâu đực khoảng 05 tuổi và 01 con trâu đực khoảng 06 tuổi) của gia đình anh Sùng Giảng V, mục đích đem bán lấy tiền chi tiêu cá nhân, giá trị hai con trâu mà bị cáo trộm cắp là 54.900.000 đồng. Ngày 17/4/2025 bị cáo đã đến Công an xã Mường Tùng đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vị trộm cắp tài sản của mình. Như vậy, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp lời khai của người liên quan, phù hợp với kết luận điều tra, với cáo trạng truy tố và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ căn cứ để xác định: Hành vi lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu, bị cáo đã có hành vi lén lút bí mật chiếm đoạt 02 con trâu đực của gia đình anh Sùng Giảng V có giá trị là 54.900.000 đồng với mục đích mang đi bán để lấy tiền chi tiêu cá nhân của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Điện Biên đã truy tố bị cáo để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Xét về tính chất vụ án:
Đây là vụ án nghiêm trọng về trộm cắp tài sản, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự an toàn xã hội và gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo là người có nhân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, là đồng bào dân tộc thiểu số, tuổi còn trẻ, nhận thức và hiểu biết pháp luật còn hạn chế. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, sau khi trộm cắp tài sản bị cáo ra đầu thú về hành vi phạm tội của mình và bị cáo đã tích cực tác động gia đình tự nguyện bồi thường thiệt hại tiền công đi tìm kiếm trâu cho bị hại là 1.600.000 đồng, HĐXX chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, trước khi phạm tội bị cáo chấp hành đúng chính sách pháp luật của Nhà nước và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân nơi cư trú nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng đủ sức răn đe, giáo dục. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Điện Biên đề nghị xử phạt bị cáo 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Đại diện viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên cần chấp nhận, xử phạt bị cáo như đề nghị của Đại diện viện kiểm sát.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền. Xét hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo còn nhiều khó khăn (xác minh tại nơi ở bị cáo không có tài sản gì có giá trị) nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đoàn Thanh N, quá trình điều tra đã làm rõ khi anh N nhận chở thuê hai con trâu cho bị cáo, anh N hoàn toàn không biết là tài sản trộm cắp mà có nên không đề cập xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 17/7/2025 bị cáo đã tích cực tác động gia đình bị cáo tự nguyện bồi thường công đi tìm kiếm trâu cho bị hại Sùng Giảng V là 1.600.000 đồng. Xét thấy sự tự nguyện thỏa thuận về việc bồi thường này của các bên là phù hợp quy định tại Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự, do vậy cần cần chấp nhận sự thỏa thuận này của bị cáo và bị hại.
Đối với số tiền công 2.000.000 đồng mà bị cáo thuê anh N chở trâu đi bán, anh N không yêu cầu bị cáo phải trả số tiền này cho anh N, do đó HĐXX không xem xét.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 xe ô tô tải biển kiểm soát 27C - 035.51 nhãn hiệu THACO, màu sơn xanh, tải trọng 2,4 tấn xe cũ đã qua sử dụng, 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 27C - 035.51 mang tên Đoàn Thanh N, 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ. Quá trình điều tra đã trả lại những tài sản trên cho chủ sở hữu hợp pháp anh Đoàn Thanh N là đúng theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiêu HONDA WAVE RSX biển kiểm soát 27V1 - 118.45 màu xanh, đen, xe cũ đã qua sử dụng; Số máy JA52E0576432; Số khung RLHJA3850PY223461 (kèm chìa khóa xe), quá trình điều tra làm rõ bị cáo dùng xe mô tô này để đi tìm mua trâu, đây cũng là phương tiện duy nhất để gia đình bị cáo đi lại, không dùng xe mô tô này để đi trộm cắp tài sản nên căn cứ điểm a khoản 3 Điều 103 Bộ luật Tố tụng hình sự sự cần trả lại cho bị cáo.
Về án phí:
Xét thấy bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, thường trú ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và đã có đơn đề nghị miễn án phí nên căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội cần miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Về quyền kháng cáo:
Theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Điện Biên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1, 2, 5 Điều 65, Điều 48 Bộ luật hình sự; Khoản 2 Điều 136, điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 4 Điều 328, Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 của UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Vàng A H phạm tội: "Trộm cắp tài sản".
Xử phạt bị cáo Vàng A H 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 04/9/2025).
Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Vàng A H đang bị tạm giam, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Giao bị cáo Vàng A H cho Ủy ban nhân dân xã N, tỉnh Điện Biên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban nhân dân xã N, tỉnh Điện Biên trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện bồi thường tiền công đi tìm kiếm trâu của gia đình bị cáo đối với bị hại Sùng Giảng V với số tiền là 1.600.000 đồng (một triệu sáu trăm nghìn đồng) (đã bồi thường).
3. Vật chứng vụ án: Trả lại cho bị cáo Vàng A H 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE RSX biển kiểm soát 27V1 - 118.45 màu xanh, đen, xe cũ đã qua sử dụng; Số máy JA52E0576432; Số khung RLHJA3850PY223461 (kèm chìa khóa xe).
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/8/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 - Điện Biên.
4. Về án phí: Miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 04/9/2025). Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Phòng Thanh tra, Kiểm tra và Thi hành án (TAND tỉnh Điện Biên); - VKSND tỉnh Điện Biên; - VKSND khu vực 5; - Phân trại tạm giam Nà Hỳ; - Công an xã Na Sang, tỉnh Điên Biên; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Điên Biên; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Điện Biên; - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Điên Biên; - THADS tỉnh Điện Biên; - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - Bị cáo; Bị hại, Người có QL và NV liên quan; - Lưu HS, HSTHA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dƣơng Thị Nhung |