vanban.org

Bản án 18/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Bùi Thịnh Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Thịnh Đ 06 (Sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự tỉnh Vĩnh Long nhận Đ quyết định thi hành án. Giao bị cáo Bùi Thịnh Đ cho Ủy ban nhân dân xã Thuận An, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long để g… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Thịnh Đ - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Thịnh Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BÌNH MINH
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2025/HS-ST
Ngày: 29/4/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH MINH, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Thúy Quỳnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Sơn Mứt.

Ông Lương Phi Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Huyền Trang – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Thái - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 4 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 18/2025/TLST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:

Bùi Thịnh Đ, sinh ngày 01/9/1996; Nơi thường trú: Ấp T, xã T, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long; Nơi ở hiện nay: Ấp T, xã T, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Hữu Lộc và bà Võ Kim Hưởng; Anh, chị em ruột: Có 04 người; Vợ, con: Không; Tiền án: Không; Tiền sự: 01 lần: Ngày 03/10/2024 bị Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường Đông Thuận, thị xã Bình Minh ra Quyết định xử phạt hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản (đã đóng phạt xong); Nhân thân: Ngày 17/4/2014, bị Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xử 02 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản” (Đã chấp hành xong ngày 27/4/2016). Ngày 30/10/2024 bị Toà án nhân dân thị xã Bình Minh ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng (Đang Đ hoãn thi hành). Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 11/02/2025 đến ngày 17/3/2025, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ông Phan Hữu T, sinh năm 1984; Nơi cư trú: Tổ 25, khóm Đ, phường Đ, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long, có mặt.

Người làm chứng: Ông Đinh Văn K, sinh năm 1969; Nơi cư trú: Khóm Đ, phường Đ, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án Đ tóm tắt như sau:

Bùi Thịnh Đ là đối tượng nghiện chất ma tuý. Ngày 03/10/2024, Bùi Thịnh Đ bị Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường Đông Thuận, thị xã Bình Minh xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, Đ đã nộp phạt vào ngày 14/02/2025. Vào đêm ngày 09/11/2024 rạng sáng ngày 10/11/2024, vì muốn có tiền để mua ma tuý sử dụng cho bản thân, bị cáo mang theo 01 ba lô và 01 cây kéo đi bộ đến khu vực phường Đông Thuận, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long để tìm tài sản lấy trộm. Khoảng 02 giờ ngày 10/11/2024, Đ đi đến quán bán nước giải khát Hương Thắm thuộc tổ 25, khóm Đông Thuận, phường Đông Thuận, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long của anh Phan Hữu T thì phát hiện phía bên trong cặp hàng rào của quán có đường dây điện CADIVI – Vcmo 2 x1 (2x32/0.20) dẫn từ khu vực bên trong quán ra môtơ bơm nước ở trước quán (chiều dài dây điện đo Đ là 2,9m). Đ dùng tay rút sợi dây điện ra bên ngoài, sau đó dùng kéo cắt để lấy sợi dây điện. Sau khi đã cắt Đ 01 đoạn dây điện dài khoảng 40 cm, Đ tiếp tục rút sợi dây điện ra để cắt thì bị anh Phan Hữu T phát hiện. Anh T liền nhặt trong quán một thanh kim loại (sắt hộp) dài 1,37m cầm trên tay phải, tay trái cầm đèn pin chạy ra khống chế để bắt giữ Đ. Đ chạy khoảng 15 mét thì anh T đuổi kịp, anh T cầm cây kim loại đánh một cái trúng cổ chân phải của Đ làm Đ té ngã, Đ van xin nên anh T không bắt giữ Đ (lúc này có anh Đinh Văn K đang đi đến nhìn thấy), sau đó anh T đi vào trong quán nước. Đ bị thương đi ra khu vực cầu vượt Quốc lộ 54 thì Đ người dân đưa đến Trung tâm y tế thị xã Bình Minh điều trị vết thương.

Ngày 10/11/2024, Bùi Thịnh Đ đến Công an phường Đông Thuận trình báo sự việc. Cùng ngày Phan Hữu T cũng đến Công an phường Đông Thuận đầu thú về hành vi của mình.

Căn cứ kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 11/KL-TTCT-TTPY ngày 16/11/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Vĩnh Long: Kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Bùi Văn Đ tại thời điểm giám định là 15%; vết thương do vật tày gây ra.

Căn cứ kết luận định giá tài sản số 37/KL.ĐGTS ngày 20/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Bình Minh kết luận: 01 (một) đoạn dây điện màu xanh có chiều dài 40cm, loại dây điện CADIVI – Vcmo 2x1 (2x32/0.20) có giá trị 3.150 đồng.

Đối với Phan Hữu T, cầm cây sắt hộp đuổi bắt và đánh vào chân của Bùi Thịnh Đ là để bắt giữ Đ khi Đ đang thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, hành vi của Phan Hữu T nhằm mục đích bắt giữ người đang có hành vi phạm tội nhưng đã vượt mức cần thiết. Do đó, hành vi của Phan Hữu T là hành vi khách quan của tội “Cố ý gây thương tích do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội” quy định tại Điều 136 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, theo kết luận giám định tỷ lệ thương tật của Bùi Thịnh Đ là 15% nên hành vi của Phan Hữu T chưa đủ yếu tố cấu thành tội này, Công an thị xã Bình Minh đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với Phan Hữu T với số tiền 6.500.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội”.

Quá trình điều tra, Bùi Thịnh Đ thừa nhận hành vi phạm tội, Đ thừa nhận nếu không bị anh T phát hiện Đ sẽ tiếp tục cắt lấy trộm dây điện và tài sản của anh T để có tiền mua ma tuý sử dụng.

Tại bản cáo trạng số 17/CT-VKSBM ngày 13/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Minh truy tố bị cáo Bùi Thịnh Đ để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà sơ thẩm hôm nay:

Bị cáo Đ khai nhận do cần tiền để mua ma tuý sử dụng nên khoảng 2h sáng ngày 10/11/2024, bị cáo mang theo 01 ba lô và 01 cây kéo đi đến quán nước Hương Thắm của anh T lén lút dùng tay rút sợi dây điện ra bên ngoài và dùng kéo cắt để lấy sợi dây điện thì bị anh T phát hiện.

Bị hại Phan Hữu T trình bày: Ông là chủ quán nước giải khát Hương Thắm. Khoảng 02 giờ ngày 10/11/2024, ông phát hiện Đ có hành vi lén lút cắt đường dây điện nên ông cầm cây sắt hộp đuổi bắt và đánh vào chân của Đ mục đích là để bắt giữ Đ chứ không nhằm mục đích gây thương tích, sau đó Đ van xin nên ông thả Đ ra về. Ngày 10/11/2024, ông có đến Công an phường Đông Thuận đầu thú về hành vi của mình. Công an thị xã Bình Minh ra quyết định xử phạt hành chính đối với hành vi vi phạm của ông với số tiền 6.500.000 đồng và ông đã nộp phạt xong.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự tuyên xử bị cáo Bùi Thịnh Đ tội “Trộm cắp tài sản”; Áp dụng Điều 36 và các điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Thịnh Đ từ 06 tháng đến 09 tháng cải tạo không giam giữ; Miễn hình phạt bổ sung và miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Phan Hữu T không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đặt ra xem xét.

- Về thu giữ, xử lý vật chứng:

+ Đối với 01 (một) đoạn dây điện màu xanh có chiều dài 40cm, loại dây điện CADIVI –Vcmo 2x1 (2x 32/0.20). Bị hại không có yêu cầu nhận lại nên đề nghị tịch thu, tiêu hủy.

+ Đối với 01 thanh kim loại (dạng hộp 02 cm x 04 cm) có chiều dài 1,37m là vật dụng dùng trong xây dựng của anh T. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho anh T xong nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

+ Tịch thu, lưu vào hồ sơ vụ án: 01 đĩa DVD-R có chứa nội dung kết quả ghi âm, ghi hình hỏi cung bị cáo.

Ngoài ra, bị cáo Đ còn phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng của bị cáo Đ: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã Đ tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không kêu oan, không khiếu nại.

Về tố tụng: Người làm chứng Đinh Văn Khỏe đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không rõ lý do. Xét thấy trong quá trình điều tra, người làm chứng đã có lời khai đầy đủ tại Cơ quan điều tra, sự vắng mặt của bị hại không ảnh hưởng đến việc xét xử bị cáo nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 293 của Bộ luật tố tụng Hình sự xét xử vắng mặt người làm chứng Đinh Văn Khỏe.

Xét lời khai của bị cáo Bùi Thịnh Đ tại phiên toà sơ thẩm hôm nay phù hợp với biên bản về việc bị mất trộm tài sản, biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường, biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung bị can cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ để xác định bị cáo Đ là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, đã bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản nhưng để có tiền mua ma túy sử dụng và tiêu xài cá nhân nên vào khoảng 2h sáng ngày 10/11/2024, bị cáo đi đến quán bán nước của anh Phan Hữu T phát hiện có đường dây điện không có ai trông giữ nên bị cáo đã lén lút dùng kéo cắt trộm một đoạn dây điện mà theo kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Bình Minh kết luận: 01 (một) đoạn dây điện màu xanh có chiều dài 40cm, loại dây điện CADIVI –Vcmo 2x1 (2x32/0.20) có giá trị 3.150 đồng. Do đó hành vi của bị cáo Bùi Thịnh Đ đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Hành vi phạm tội của bị cáo Đ là nguy hiểm cho xã hội, vì không có tiền tiêu xài cá nhân và không có tiền mua ma tuý sử dụng mà bị cáo Đ đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác Đ pháp luật bảo vệ, gây tác động xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

Về nhân thân bị cáo Đ: Ngày 17/4/2014, bị Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản” (Đã chấp hành xong ngày 27/4/2016). Ngày 30/10/2024 bị Toà án nhân dân thị xã Bình Minh ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng (Đang Đ hoãn thi hành). Bị cáo Đ đã bị Chủ tịch UBND phường Đông Thuận, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long ra quyết định xử phạt hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản nhưng đến ngày 10/11/2024 lại tiếp tục trộm cắp tài sản. Hành vi của bị cáo Đ đã thể hiện ý thức xem thường pháp luật nên cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên khi lượng hình cần xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: Bị cáo phạm tội gây thiệt hại không lớn; trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên cần áp dụng các điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, đã nhận thức Đ hành vi vi phạm nên áp dụng Điều 36 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử lý bị cáo là phù hợp, không cần cách ly khỏi xã hội vẫn đảm bảo việc răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo.

Xét thấy bị cáo Đ là người có hoàn cảnh khó khăn, thu nhập không ổn định, có xác nhận của chính quyền địa phương nên xét miễn hình phạt bổ sung và miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

Về các vấn đề khác:

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Phan Hữu T không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên không đặt ra xem xét.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 (một) đoạn dây điện màu xanh có chiều dài 40cm, loại dây điện CADIVI –Vcmo 2x1 (2x 32/0.20) do bị hại không có yêu cầu nhận lại và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với 01 thanh kim loại (dạng hộp 02 cm x 04 cm) có chiều dài 1,37m là vật dụng dùng trong xây dựng của anh T. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho anh T xong nên không đặt ra xem xét.

- Tịch thu, lưu vào hồ sơ vụ án: 01 đĩa DVD-R có chứa nội dung kết quả ghi âm, ghi hình hỏi cung bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Xét lời đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Minh phù hợp với nhận định trên nên Đ chấp nhận đề nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Bùi Thịnh Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật Hình sự năm 2015 Đ sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt: Bị cáo Bùi Thịnh Đ 06 (Sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự tỉnh Vĩnh Long nhận Đ quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Bùi Thịnh Đ cho Ủy ban nhân dân xã Thuận An, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long để giám sát, giáo dục. Gia đình của bị cáo Bùi Thịnh Đ có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Thuận An, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp người chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

2. Về hình phạt bổ sung và khấu trừ thu nhập: Miễn hình phạt bổ sung và miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Bùi Thịnh Đ.

3. Về các vấn đề khác:

3.1. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Phan Hữu T không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

3.2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự và Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Tịch thu, tiêu hủy: Đối với 01 (một) đoạn dây điện màu xanh có chiều dài 40cm, loại dây điện CADIVI –Vcmo 2x1 (2x 32/0.20).

- Đối với 01 thanh kim loại (dạng hộp 02 cm x 04 cm) có chiều dài 1,37m là vật dụng dùng trong xây dựng của anh T. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho anh T xong nên không đặt ra xem xét.

- Tịch thu, lưu vào hồ sơ vụ án: 01 đĩa DVD-R có chứa nội dung kết quả ghi âm, ghi hình hỏi cung bị cáo.

(Vật chứng, tài sản nêu ở mục 3.2 của quyết định này hiện do Chi cục thi hành án Dân sự thị xã Bình Minh quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 19/3/2025).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Bùi Thịnh Đ phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Trường hợp bản án Đ thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014 thì người Đ thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án Đ thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008.

5. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo Bùi Thịnh Đ, bị hại Phan Hữu T Đ quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ