- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 THÀNH PHỐ CẦN THƠ ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2025/HS-ST Ngày: 11/8/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Liêng Thị Hồng Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Tạ Quang Đức
2. Ông Lê Thanh Tùng
- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Minh Khang, Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Cần Thơ
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 – Cần Thơ tham gia phiên tòa: ông Lưu Minh Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 8 năm 2025 tại Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 36/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 6 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2025 đối với bị cáo:
NGUYỄN VĂN T, sinh ngày 10/7/1986, tại Cần Thơ
Nơi cư trú: E, khu V, phường B, quận C, thành phố Cần Thơ (nay là E, khu V, phường C, thành phố Cần Thơ).
Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Kinh;
Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Nguyễn Văn B (C) và bà Lữ Thị É (S);
Tiền sự: không;
Tiền án: Ngày 01/8/2023 bị Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (chấp hành xong ngày 04/5/2024);
Bị cáo tại ngoại (Có mặt).
- Người giám hộ của bị cáo: Lữ Thị É, sinh năm 1961, nơi cư trú: E, khu V, phường C, thành phố Cần Thơ – Có mặt.
- 1 -
- Người bào chữa cho bị cáo: Nguyễn Lý Xuân T1 - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý thành phố C.
- Bị hại: Công ty L
Địa chỉ: Nhà số A, khu G, xã P, thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp cho bị hại: Lê Văn N, sinh năm 1990, địa chỉ: ấp N, xã N, thành phố Cần Thơ – Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Nguyễn Thị Bích P, sinh năm 1970
Nơi cư trú: khu V, phường C, thành phố Cần Thơ – Vắng mặt.
2. Trần Thanh T2, sinh năm 1991
Nơi cư trú: 16/2B, khu 1, xã Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long.
Chỗ ở: khu vực 3, phường Cái Răng, thành phố Cần Thơ – Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 06 giờ 40 phút ngày 12/10/2024, Nguyễn Văn T uống cà phê trên Quốc lộ F thuộc phường B, quận C, thành phố Cần Thơ. Lúc này, T nảy sinh ý định đi công trình cầu B thuộc ấp N, xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ do Công ty L thi công để lấy trộm sắt vụn bán lấy tiền tiêu xài. Đến 07 giờ 40 phút, T đến vựa phế liệu gần quán cà phê nhặt bao ni lông màu đỏ, đi đến công trình cầu B. Tại đây, T quan sát thấy công trình không có người trông coi nên lén lút lấy trộm 01 (một) cây búa tạ bằng sắt, 01 (một) cây sắt dài khoảng 70cm có hàn một miếng sắt hình chữ nhật, 09 (chín) cục sắt, tổng trọng lượng 12,8kg, T để tất cả tài sản trộm được vào bao ni long, sau đó, đi bộ ra cặp mé sông thì bị anh Lê Văn N là bảo vệ công trình phát hiện, giữ lại cùng với tài sản trộm và báo cơ quan công an đến xử lý.
Quá trình điều tra, T khai nhận ngoài lần lấy trộm ngày 12/10/2024, T còn 04 lần lấy trộm tài sản tại công trình, cụ thể:
+ Lần thứ 01: Không nhớ rõ thời gian, trong năm 2024, T đi bộ vào công trình lén lút lấy trộm khoảng 22kg sắt mang bán cho người mua phế liệu tên Đ (không rõ nhân thân) với số tiền 132.000 đồng. Do không xác định được nhân thân chị Đ nên cơ quan Công an chưa thu hồi được số sắt trên.
- 2 -
+ Lần thứ 02: Ngày 09/10/2024, T đi bộ vào công trình lén lút trộm 11kg sắt mang bán choTrần Thanh Trường - nhân viên tiệm phế liệu Nguyễn Thị Bích P trên Quốc lộ F thuộc phường B, quận C, thành phố Cần Thơ với số tiền 77.000 đồng, đã thu hồi được tài sản.
+ Lần thứ 03 và lần thứ 04: Cùng ngày 10/10/2024, T đi bộ vào công trình lén lút trộm hai lần tổng cộng 13kg sắt mang bán cho Trần Thanh T2 -nhân viên tiệm phế liệu Nguyễn Thị Bích P với số tiền 91.000 đồng, đã thu hồi được tài sản.
Tại Kết luận định giá tài sản số 38/KL-HĐĐGTS ngày 19/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P xác định 01 (một) cây búa tạ bằng kim loại, 01 (một) cây sắt dài khoảng 70cm có hàn một miếng sắt hình chữ nhật, 09 (chín) cục sắt, tổng trọng lượng 12,8kg, T trộm ngày 12/10/2024 có giá trị là 90.000 đồng (Bút lục số 24).
Tại Kết luận định giá số 07/KL-HĐĐGTS ngày 28/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P xác định giá trị đối với 11kg sắt, T trộm ngày 09/10/2024 có giá trị 77.000 đồng và 13kg sắt trộm vào ngày 10/10/2024 có trị giá 91.000 đồng (Bút lục số 29).
Như vậy, tổng tài sản T trộm được vào ngày 09/10/2024, ngày 10/10/2024 và 12/10/2024 với tổng giá trị là 259.000 đồng.
Qua trích lục tiền án, tiền sự, T có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản bị Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ xử phạt 09 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 04/5/2024, chưa được xóa án tích.
Căn cứ Kết luận giám định tâm thần số 234/2025/KLGĐ, ngày 17/6/2025 của Trung tâm P1. Kết luận Nguyễn Văn T:
+ Kết luận theo tiêu chuẩn y học: “Trước, trong, sau khi thực hiện hành vi phạm tội và hiện tại: đương sự có bệnh lý tâm thần, rối loạn nhân cách thực tồn (F07.0 – ICD10) + Động kinh (G40-ICD10).
+ Kết luận về khả năng nhận thức, điều khiển hành vi: “Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội và hiện tại. Đương sự hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi, do biến đổi nhân cách mức độ vừa" (BL 216-217).
Căn cứ Công văn số 234.1/PYTTTNB, ngày 17/6/2025 của Trung tâm P1 về việc giải thích kết luận giám định pháp y tâm thần trường hợp Nguyễn Văn T.
- 3 -
Kết quả: Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội và hiện tại đương sự có năng lực trách nhiệm hình sự (BL 218).
Đối với tài sản T trộm lần thứ 01 do không xác định được nhân thân, lai lịch người mua phế liệu tên Đ, không thu hồi được tài sản và ông N bảo vệ công trình không xác định được đặc điểm, chủng loại, trọng lượng tài sản bị mất trộm lần thứ 01 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra, tiếp tục xác minh, làm rõ đủ căn cứ xử lý sau.
Đối với bà Nguyễn Thị Bích P là chủ cơ sở mua phế liệu và Trần Thanh T2 không hứa hẹn trước, không biết sắt T mang bán cho tiệm phế liệu là tài sản do trộm cắp mà có, lời khai của bà P, ông T2 và bị cáo phù hợp với nhau nên không đủ căn cứ để xử lý P, T2 về vai trò đồng phạm với T hoặc tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
Tại bản cáo trạng số 40/CT-VKSPĐ ngày 25/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T thừa nhận sự việc như nội dung cáo trạng. Trong khoảng thời gian tháng 10/2024 bị cáo đã 05 lần lấy trộm sắt vụn tại công trình cầu B do Công ty L thi công. Trong lần lấy trộm ngày 12/10/2024 thì bị cáo bị bắt quả tang cùng tang vật gồm 01 cây búa tạ bằng sắt, 01 cây sắt dài 70cm, 09 cục sắt với tổng trọng lượng là 12,8 kg sắt. Ngoài lần lấy trộm khoảng 22kg sắt bán được 132.000 đồng chưa thu hồi được tài sản thì 03 lần còn lại bị cáo lấy trộm và bán cho tiệm phế liệu Nguyễn Thị Bích P với số tiền 168.000 đồng. Theo kết quả định giá tổng số lượng sắt thu giữ được do bị cáo lấy trộm trị giá 259.000 đồng. Bị cáo đã bị kết án về hành vi trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích, mà lại tiếp tục thực hiện hành vi lấy trộm tài sản của người khác trị giá dưới 2.000.000 đồng đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội; đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
- 4 -
Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo: thống nhất về tội danh và các tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, q, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc thêm về hoàn cảnh gia đình và bị cáo đang điều trị bệnh để áp dụng mức án thấp nhất đối với bị cáo.
Bị cáo đang trong độ tuổi lao động, có sức khỏe nhưng không làm việc tạo thu nhập hợp pháp mà tìm tài sản để trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài. Bị cáo có bệnh nhưng đủ nhận thức được hành vi trộm cắp là vi phạm pháp luật, bị cáo đã từng bị kết án vẫn không ăn năn hối cải, cần xử lý nghiêm nhằm đảm bảo tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét bị cáo có bệnh dẫn đến bị hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi, bị cáo cũng đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả, thành khẩn khai báo nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự, tài sản bị lấy trộm gồm 01 cây búa tạ bằng kim loại; 01 cây sắt dài khoảng 70cm có hàn một miếng sắt hình chữ nhật; 09 cục sắt, tổng trọng lượng 12,8kg; và 24kg sắt do Nguyễn Văn T bán vào ngày 09/10/2024 và ngày 10/10/2024 thu giữ của Nguyễn Thị Bích P đã được giao trả cho bị hại. Bị cáo cũng đã bồi thường thiệt hại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Các đương sự không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Đối với số tiền thu lợi bất chính do bị cáo giao nộp được tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản.
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173, điểm b, q, s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 47, Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn T 06 tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 300.000 đồng của bị cáo thu lợi bất chính.
Bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người giám hộ của bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
- 5 -
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - TAND Tp. Cần Thơ; - VKSND Tp. Cần Thơ; - P.hồ sơ, nghiệp vụ CA TPCT; - VKSND Khu vực 3 – Cần Thơ; - Phòng THADS Khu vực 3 – Cần Thơ; - P. THAHS & HTTP CA TPCT; - Lưu HS (2). - 6 - | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA LIÊNG THỊ HỒNG HOA |