- Tranh chấp gì? án hình sự — "hình sự - phạm tội hủy hoại nguồn lợi thủy sản (điều 242 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố bị cáo Ngô Văn C phạm tội “Hủy hoại nguồn lợi thủy sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2025/HS-ST Ngày: 29 – 7 – 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Châu Minh Tiếp
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đông Hà
Bà Trần Thị Bé Ngọc
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Điền – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 11 – Cần Thơ
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Lê Hữu Nam - Kiểm sát viên sơ cấp.
Vào ngày 29 tháng 7 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 11 – Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 19/2025/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 7 năm 2025 đối với bị cáo:
Ngô Văn C (tên gọi khác khai tại phiên tòa: B), sinh năm: 1985, tại huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang; nơi ĐKTT: ấp 3, xã VThT, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang (Nay ấp 3, xã VThĐ, thành phố Cần Thơ); nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn Đ và bà Lê Thị X; bị cáo có vợ và 04 con; Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 16/05/2024 bị Uỷ ban nhân dân xã VThT, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang xử phạt vi phạm hành chính số tiền 4.000.000 đồng về hành vi sử dụng công cụ kích điện khai thác thủy sản (nộp phạt 20/5/2024). Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 23 giờ 20 phút ngày 06/9/2024, Công an xã VThT, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang bắt quả tang Ngô Văn C, thực hiện hành vi sử dụng công cụ kích điện để khai thác thủy sản trên tuyến kênh Ba Phúc thuộc ấp 5, xã VTT, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.
Tang vật tạm giữ:
- 01 (một) xuồng Compusite màu xanh không nhãn hiệu, chiều dài 3,5m, chiều rộng 70cm (đã qua sử dụng).
- 01 (một) bình ắc quy nhãn hiệu GS (12GS (12V-70AH).
- 01 (một) công cụ kích điện màu đỏ kích thước (15x32cm),
- 01 (một) cây vợt tự chế,
- 03 con cá lóc 0,5kg và 05 con cá rô 0,5kg.
Quá trình điều tra Ngô Văn C xác định: Khoảng 21 giờ, ngày 06/9/2024, C sử dụng xuồng, trên xuồng có bộ xung điện để đánh bắt thủy sản trên tuyến kênh Ba Phúc, thuộc ấp 5, xã VThT, huyện Vị Thủy, đi được khoảng 30 phút, bắt được khoảng 01kg cá rô, cá lóc, trong đó 03 con cá lóc khoảng 0,5kg; 05 con cá rô khoảng 0,5kg thì bị Công an xã VThT, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang bắt quả tang.
Căn cứ kết luận giám định số 6489/KL-KTHS ngày 04/11/2024 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh. Kết luận:
- Điện áp đo tại vị trí kết nối giữa hộp kích điện và bình ắc quy là 12V.
- Điện áp đo tại vị trí kết nối giữa cục biến thế và 01 cây vợt tự chế là từ 250V đến 277V.
- Điện áp đo tại đầu thanh sắt của 01 cây vợt tự chế là từ 250V đến 277V.
- Điện áp từ 250V đến 277V là điện áp gây nguy hại cho con người và các loài thủy sản dưới nước.
Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số: 07KL-HĐ.ĐGTS ngày 27 tháng 3 năm 2025 của Hội đồng định giá tài sản huyện Vị Thuỷ. Kết luận:.
- 03 con cá lóc có tổng trọng lượng 0,5kg, có giá 42.500đồng.
- 05 con cá rô có tổng trọng lượng 0,5kg, có giá 22.500 đồng.
- Tổng giá trị tài sản là 65.000 đồng.
Qua xác minh Ngô Văn C có 01 (một) tiền sự về hành vi sử dụng xung điện khai thác thuỷ sản theo Quyết định số 21/QĐ-XPHC ngày 16/5/2024 của Ủy ban nhân dân xã VThT, huyện Vị Thuỷ, tỉnh Hậu Giang. Chấp hành xong ngày 20/5/2024.
* Đồ vật bị tạm giữ:
1. Xuồng Compusite, số lượng: 01 Chiếc; Đặc điểm: xuồng Compusite màu xanh không nhãn hiệu, chiều dài 3,5m, chiều rộng 70cm (đã qua sử dụng).
2. Bình ắc quy, số lượng: 01 Cái; Đặc điểm: bình ắc quy nhãn hiệu GS (12GS (12V-70AH).
3. Công cụ kích điện, số lượng: 01 Cái; Đặc điểm: công cụ kích điện màu đỏ kích thước (15x32cm).
4. Cây vợt tự chế, số lượng: 01 Cây; Đặc điểm: cây vợt tự chế, màu đen, chất liệu nhựa tổng hợp, dài khoảng 1,8m.
Chuyển tang vật đến Chi cục Thi hành án huyện Vị Thủy để quản lý gồm:
1. Xuồng Compusite, số lượng: 01 Chiếc; Đặc điểm: xuồng Compusite màu xanh không nhãn hiệu, chiều dài 3,5m, chiều rộng 70cm (đã qua sử dụng).
2. Bình ắc quy, số lượng: 01 Cái; Đặc điểm: bình ắc quy nhãn hiệu GS (12GS (12V-70AH).
3. Công cụ kích điện, số lượng: 01 Cái; Đặc điểm: công cụ kích điện màu đỏ kích thước (15x32cm).
4. cây vợt tự chế, số lượng: 01 Cây; Đặc điểm: cây vợt tự chế, màu đen, chất liệu nhựa tổng hợp, dài khoảng 1,8m.
Tại bản Cáo trạng số 19/CT-VKS-HVT ngày 24/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vị Thủy đã truy tố bị cáo Ngô Văn C về tội “Hủy hoại nguồn lợi thủy sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 242 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Ngô Văn C phạm tội “Hủy hoại nguồn lợi thủy sản” theo quy định điểm a khoản 1 Điều 242 Bộ luật hình sự.
Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 242; Điều 50, Điều 36, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Ngô Văn C mức án từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ.
Xử lý vật chứng áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Vật chứng có giá trị sử dụng sung quỹ Nhà nước, vật chứng không có giá trị cao tịch thu tiêu hủy theo quy định.
Ý kiến tự bào chữa và nói lời sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án của bị cáo tại phiên toà: Xin Hội đồng xét xử giảm hình phạt nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Xét hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, của Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo và quyết định truy tố của Viện kiểm sát:
Tại phiên tòa một lần nữa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội: Vào lúc 21 giờ ngày 06/9/2024, tại đoạn kênh Ba Phúc thuộc ấp 5, xã VThT, huyện Vị Thuỷ, tỉnh Hậu Giang (nay là xã VThĐ, thành phố Cần Thơ), bị cáo thực hiện hành vi dùng dòng điện đánh bắt thủy sản trái phép theo kết luận dòng điện mà bị cáo sử dụng “Điện áp đo tại vị trí kết nối giữa hộp kích điện và bình ắc quy là 12V; Điện áp đo tại vị trí kết nối giữa cục biến thế và 01 cây vợt tự chế là từ 250V đến 277V; Điện áp đo tại đầu thanh sắt của 01 cây vợt tự chế là từ 250V đến 277V; Điện áp từ 250V đến 277V là điện áp gây nguy hại cho con người và các loài thủy sản dưới nước”. Kết luận định giá tài sản đánh bắt được là 65.000 đồng. Mặc dù, tổng giá trị nguồn lợi thủy sản đánh bắt được dưới định lượng, nhưng bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi dùng xung điện đánh bắt thủy sản trái phép (chưa xóa tiền sự) vẫn tiếp tục có hành vi phạm tội như trên nên Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo phạm tội “Hủy hoại nguồn lợi thủy sản” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 242 Bộ luật hình sự với định khung là “Sử dụng…dòng điện…để khai thác thủy sản…” là có căn cứ đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ phạm tội và hành vi nguy hiểm cho xã hội của bị cáo:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo biết rất rõ nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi dùng công cụ kích điện để khai thác thủy sản, vì khi khai thác thủy sản bằng bộ kích điện không những sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sinh thái dưới nước và các nguồn lợi thủy sản cần được bảo vệ, mà còn gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe của người khác và chính bản thân bị cáo.
Hành vi của bị cáo còn làm mất an ninh trật tự ở địa phương, là xem thường pháp luật, nên cần có mức án phù hợp với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo có như vậy mới đủ tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm chung nhằm góp phần vào công tác tuyên truyền bảo vệ nguồn lợi thủy sản trên địa bàn. Tuy nhiên khi lượng hình phạt có xem xét, cân nhắc đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cho bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này đối với bị cáo không thuộc trường hợp phải áp dụng tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, gia đình có hoàn cảnh thật sự khó khăn, đi làm thuê lo cho gia đình sống qua ngày, bị cáo nhận thức pháp luật còn hạn chế đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự giảm cho bị cáo một phần hình phạt.
Về áp dụng hình phạt: Trong vụ án này việc áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là không cần thiết, không đạt được mục đích của hình phạt, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng nên áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ cũng phù hợp với quy định pháp luật, không ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, đồng thời cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo.
Do bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên không khấu trừ thu nhập trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
Về hình phạt bổ sung như nhận định ở trên, nên không áp dụng thêm hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về vật chứng: Vật chứng còn giá trị sử dụng tịch thu sung quỹ Nhà nước; Vật chứng không còn giá trị sử dụng cao tịch thu tiêu hủy toàn bộ vật chứng của vụ án.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định,
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo luật định.
Quan điểm, đề nghị giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với nhận định, đánh giá của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Tuyên bố bị cáo Ngô Văn C phạm tội “Hủy hoại nguồn lợi thủy sản”.
[2] Về điều luật áp dụng và hình phạt:
[2.1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 242; Điều 36, Điều 50; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[2.2] Xử phạt bị cáo Ngô Văn C 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố Cần Thơ nhận được Quyết định thi hành án. Giao người bị kết án cho Uỷ ban nhân dân xã VThĐ, thành phố Cần Thơ để giám sát giáo dục. Gia đình người chấp hành án có trách nhiệm phối hợp với UBND xã VThĐ trong việc giám sát giáo dục. Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định của Luật thi hành án hình sự.
Miễn nộp khấu trừ thu nhập cho bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.
[3] Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[3.1] Sung quỹ Nhà nước:
- Xuồng Compusite, số lượng: 01 Chiếc; Đặc điểm: xuồng Compusite màu xanh không nhãn hiệu, chiều dài 3,5m, chiều rộng 70cm (đã qua sử dụng).
- Bình ắc quy, số lượng: 01 Cái; Đặc điểm: bình ắc quy nhãn hiệu GS (12GS (12V-70AH).
[3.2] Tịch thu tiêu hủy:
- Công cụ kích điện, số lượng: 01 Cái; Đặc điểm: công cụ kích điện màu đỏ kích thước (15x32cm).
- Cây vợt tự chế, số lượng: 01 Cây; Đặc điểm: cây vợt tự chế, màu đen, chất liệu nhựa tổng hợp, dài khoảng 1,8m
(Theo biên bản bàn giao vật chứng, tài sản giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hậu Giang với Chi cục thi hành án dân sự huyện Vị Thủy ngày 24/4/2025).
[4] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 12 và Điều 23 của Nghị quyết số 326 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Ngô Văn C phải nộp án phí số tiền 200.000 đồng.
[5] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 29/7/2025).
| Nơi nhận: - TAND TP. Cần Thơ; - VKSND TP. Cần Thơ; - VKSND khu vực 11; - Phòng THADS khu vực 11; - Công an thành phố Cần Thơ; - UBND xã/phường nơi bị cáo cư trú; - Bị cáo; - Công bố bản án (nếu có); - Lưu VP, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Châu Minh Tiếp |