- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị B được ly hôn với anh Hồ Văn P.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀNG MAI TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2025/HNGĐ-ST Ngày: 07/5/2025 “Về việc tranh chấp ly hôn và nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Duy Tuấn.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bảy và ông Hoàng Đức Thịnh.
Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai tham gia phiên tòa: Bà Văn Thị Thu Hường - Kiểm sát viên.
Trong ngày 07 tháng 5 năm 2025, tại Hội trường Toà án nhân dân thị xã Hoàng Mai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 09/2025/TLST-HNGĐ, ngày 07 tháng 02 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 18 tháng 4 năm 2025 về “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị B, sinh năm 1995, có mặt.
Địa chỉ: Khối P, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.
Bị đơn: Anh Hồ Văn P, sinh năm 1991, vắng mặt.
Địa chỉ: Khối P, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nguyên đơn chị Nguyễn Thị B trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hồ Văn P kết hôn vào ngày 17/7/2015 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND phường Q, thị xã H. Đến tháng 01/2025 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không có chung quan niệm sống nên thường xuyên cãi vã nhau. Anh P ghen tuông nên có đánh vợ. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 01/2025 đến nay. Nay thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Hồ Văn P. Về con chung: Chị Nguyễn Thị B trình bày vợ chồng có 02 con chung là Hồ Văn Đức A, sinh ngày 13/01/2016 và Hồ Thị Khánh L, sinh ngày 15/01/2019. Nếu ly hôn chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Hồ Thị Khánh L và để anh P trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Hồ Văn Đức A. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Chị làm công nhân thu nhập mỗi tháng 6 triệu đồng.
Về tài sản: Chị đề nghị vợ chồng tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Biên bản xác minh ông Nguyễn Văn B1 khối trưởng khối P cung cấp: Chị Nguyễn Thị B và anh Hồ Văn P kết hôn ngày 17/7/2015 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND phường Q. Đến năm 2025 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nên chị B bỏ đi. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng tính tình không hợp, chị B đi làm sớm về muộn nên vợ chồng cãi vã nhau.
Về con chung: Vợ chồng chị B, anh P có 02 con chung là Hồ Văn Đức A, sinh ngày 13/01/2016 và Hồ Thị Khánh L, sinh ngày 15/01/2019. Hiện nay con chung Hồ Văn Đức A đang ở với anh P còn con chung Hồ Thị Khánh L đang ở với chị B. Từ trước đến nay chị B, anh P nuôi con vẫn đảm bảo. Vợ chồng không có hiện tượng bạo hành con. Anh P làm nghề đi biển thu nhập mỗi tháng 16 triệu đồng. Chị B đi làm công nhân công ty thu nhập bao nhiêu thì ông không biết.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai phát biểu như sau: Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân theo pháp luật tố tụng dân sự; Người tham gia tố tụng trong vụ án là nguyên đơn chấp hành pháp luật theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ 02 lần nhưng vẫn vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Về hôn nhân: Cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị B. Đề nghị xử cho chị Nguyễn Thị B được ly hôn anh Hồ Văn P.
Về con chung: Đề nghị giao cho chị Nguyễn Thị B trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung là Hồ Thị Khánh L, sinh ngày 15/01/2019 đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành. Đề nghị giao cho anh Hồ Văn P trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung là Hồ Văn Đức A, sinh ngày 13/01/2016 đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị B và anh P vì chưa ai yêu cầu. Chị Nguyễn Thị B và anh Hồ Văn P được quyền thăm nom con chung, không ai được ngăn cấm, cản trở. Về tài sản: Chị Nguyễn Thị B không yêu cầu giải quyết nên miễn xét. Về án phí: Chị Nguyễn Thị B phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị B yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn anh Hồ Văn P là tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Bị đơn đăng ký thường trú tại thị xã H, tỉnh Nghệ An nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Toà án đã được Toà án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, Thông báo kết quả về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nhưng bị đơn vẫn không trình bày ý kiến, đã tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử 02 lần vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị B và anh Hồ Văn P được UBND phường Q, thị xã H cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 17/7/2015 tuân thủ các điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật nên hợp pháp. Quá trình chung sống do vợ chồng sống không hạnh phúc, tính cách không phù hợp nên thường xuyên cãi vã nhau. Chị B đi làm sớm về muộn nên anh P có ghen tuông. Từ khi mâu thuẫn cho đến nay gia đình hai bên tích cực khuyên bàn vợ chồng đoàn tụ nhưng không được. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị B và anh P đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị Nguyễn Thị B yêu cầu được ly hôn với anh Hồ Văn P là có cơ sở nên cần chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Vợ chồng chị B, anh P có 02 con chung là Hồ Văn Đức A, sinh ngày 13/01/2016 và Hồ Thị Khánh L, sinh ngày 15/01/2019. Hiện nay con chung Hồ Thị Khánh L đang ở với chị B và con chung Hồ Văn Đức A đang ở với anh P. Ly hôn chị B xin trực tiếp nuôi con chung là Hồ Thị Khánh L. Nguyện vọng của con chung là Hồ Văn Đức A mong muốn ở với bố là chính đáng. Từ trước đến nay chị B, anh P nuôi dưỡng con chung vẫn đảm bảo. Vì vậy, cần giao cho chị Nguyễn Thị B trực tiếp nuôi dưỡng con chung Hồ Thị Khánh L, giao con chung là Hồ Văn Đức A cho anh P trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị B và anh P vì chưa ai yêu cầu. [4] Về tài sản: Chị Nguyễn Thị B không yêu cầu giải quyết nên miễn xét. [5] Về án phí: Chị Nguyễn Thị B thỏa thuận chịu cả án phí ly hôn sơ thẩm. [6] Các đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên toà về việc giải quyết toàn bộ vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng Điều 56, 81, 82 và điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban T.
Xử:
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị B được ly hôn với anh Hồ Văn P.
Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị B trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung là Hồ Thị Khánh L, sinh ngày 15/01/2019 đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành. Giao cho anh Hồ Văn P trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung là Hồ Văn Đức A, sinh ngày 13/01/2016 đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị B và anh P vì chưa ai yêu cầu. Chị Nguyễn Thị B và anh Hồ Văn P được quyền thăm nom con chung, không ai được ngăn cấm, cản trở.
Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản: Chị Nguyễn Thị B không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị B phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004321 ngày 06/02/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Hoàng Mai.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSNDTX H; - Chi cục THADSTX H; - TAND tỉnh Nghệ An; - UBND phường Q; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN –CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Duy Tuấn |