vanban.org

Bản án 18/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Như Q.

Về hôn nhân: Chị Trần Thị Như Q được ly hôn với anh Lữ Quang T. Về con chung: Chị Q và anh T có một con chung là cháu Lữ Quỳnh Như Y, sinh ngày 23 tháng 11 năm 2020, hiện đang sống với chị Q. Sau khi ly hôn, con chung giao cho chị Q trực tiếp nuôi. Ghi nhận chị Q không yêu cầu anh T cấp dưỡng cho co… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Trần Thị Như Q được ly hôn với anh Lữ Quang T."
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Như Q.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 9 – VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2025/HNGĐ–ST
Ngày: 04-8-2025
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đinh Thị Kim Ngân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hiền

2. Ông Trần Châu Phương

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thiên Trang – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 9 - Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Vĩnh Long tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Lanh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 04 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 9 – Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 189/2025/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2025 giữa các đương sự:

1/ Nguyên đơn: Chị Trần Thị Như Q, sinh năm 2001; Nơi cư trú: Ấp N, xã B, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Nay là ấp N, xã B, tỉnh Vĩnh Long. (Xin vắng mặt)

2/ Bị đơn: Anh Lữ Quang T, sinh năm 2001; Nơi cư trú: Ấp T1, xã T2, huyện M, tỉnh Bến Tre. Nay là ấp T1, xã T3, tỉnh Vĩnh Long. (Xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, nguyên đơn chị Trần Thị Như Q trình bày:

Chị và anh Lữ Quang T do quan biết, tìm hiểu nhau rồi tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và anh chị tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Trà Vinh vào ngày 19 tháng 5 năm 2021, đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến năm 2023, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, không tìm được tiếng nói chung, gia đình cũng nhiều lần động viên hàn gắn nhưng không thành. Chị và anh T sống ly thân từ tháng 4 năm 2025 cho đến nay. Nay chị xác định không còn tình cảm vợ chồng, không thể tiếp tục quan hệ hôn nhân với anh T được nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn.

Về con chung: Chị và anh T có một con chung là cháu Lữ Quỳnh Như Y, sinh ngày 23 tháng 11 năm 2020, hiện đang sống với chị. Chị yêu cầu sau khi ly hôn con chung giao cho chị trực tiếp nuôi. Khi nộp đơn ly hôn, chị có yêu cầu anh T cấp dưỡng cho con mỗi tháng 2.000.000 đồng đến khi con chung đủ 18 tuổi nhưng nay chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung: Chị và anh T không có tài sản chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết chia tài sản. Về nợ chung: Chị và anh T không có nợ chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Bị đơn anh Lữ Quang T vắng mặt trong giai đoạn chuẩn bị xét xử nhưng có ý kiến tại đơn xin vắng mặt cho rằng:

Anh đồng ý ly hôn với chị Trần Thị Như Q.

Về con chung: Anh và chị Q có một con chung là cháu Lữ Quỳnh Như Y, sinh ngày 23 tháng 11 năm 2020, hiện đang sống với chị Q. Anh đồng ý sau khi ly hôn con chung giao cho chị Q trực tiếp nuôi. Anh không cấp dưỡng do chị Q không có yêu cầu.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Vĩnh Long trình bày quan điểm như sau:

Trong thời gian chuẩn bị xét xử, Thẩm phán thực hiện các thủ tục tố tụng đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các điều 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, giải quyết: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Như Q; Về hôn nhân: Chị Q được ly hôn với anh Lữ Quang T; Về con chung: Chị Q được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là Lữ Quỳnh Như Y, sinh ngày 23 tháng 11 năm 2020, anh T không cấp dưỡng nuôi con do chị Q không có yêu cầu; Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu nên không giải quyết; Về nợ chung: Không có, không yêu cầu nên không giải quyết; Về án phí: Đương sự có nghĩa vụ chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Nguyên đơn chị Trần Thị Như Q khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn, giải quyết việc nuôi con chung với bị đơn anh Lữ Quang T nên xác định quan hệ pháp luật của vụ án là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, cụ thể là về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chị Q cho rằng giữa chị và anh T không còn tình cảm vợ chồng, hôn nhân không hạnh phúc nên chị có quyền khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình, khoản 2 Điều 68 và Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Anh T có nơi cư trú tại ấp T1, xã T2, huyện M, tỉnh Bến Tre, nay là ấp T1, xã T3, tỉnh Vĩnh Long. Căn cứ vào quan hệ pháp luật tranh chấp và nơi cư trú của bị đơn xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre, nay là Toà án nhân dân khu vực 9 – Vĩnh Long theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chị Q và anh T có yêu cầu xét xử vắng mặt nên căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Q và anh T.

Xét yêu cầu ly hôn của chị Q, Hội đồng xét xử nhận định: Chị Q và anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Trà Vinh vào ngày 19 tháng 5 năm 2021 và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định. Do đó, hôn nhân của chị Q và anh T là hợp pháp, được pháp luật công nhận. Chị Q cho rằng trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung từ khoảng năm 2023 và gia đình đã nhiều lần động viên cho anh chị hàn gắn nhưng không thành. Chị và anh T đã sống ly thân từ tháng 4 năm 2025 cho đến nay. Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án và mời anh T đến Toà tham gia hoà giải với chị Q nhưng anh T không đến. Hiện nay anh T cũng đồng ý ly hôn do không thể hàn gắn được nữa. Từ các cơ sở trên cho thấy, tình trạng hôn nhân của chị Q và anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận cho chị Q ly hôn với anh T là phù hợp.

Xét về con chung: Chị Q và anh T có một con chung là cháu Lữ Quỳnh Như Y, sinh ngày 23 tháng 11 năm 2020, chị Q yêu cầu sau khi ly hôn con chung giao cho chị trực tiếp nuôi. Hội đông xét xử xét thấy con chung hiện đang sống với chị Q, anh T không đưa ra yêu cầu được trực tiếp nuôi con. Do đó, nhằm đảm bảo cho việc nuôi dưỡng, chăm sóc để phát triển ổn định của con chung, Hội đồng xét xử chấp nhận giao con chung cho chị Q trực tiếp nuôi. Chị Q không yêu cầu anh T cấp dưỡng cho con là ý chí tự nguyện của chị nên ghi nhận.

Xét về tài sản chung: Chị Q và anh T trình bày không có tài sản chung, không yêu cầu chia tài sản nên không giải quyết.

Xét về nợ chung: Chị Q và anh T trình bày không có nợ chung, không yêu cầu giải quyết nợ chung nên không giải quyết.

Xét về án phí: Chị Q có nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch đối với yêu cầu ly hôn theo quy định pháp luật.

Xét quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Vĩnh Long là phù hợp với các nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào các điều 147, 228, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Như Q.

Về hôn nhân: Chị Trần Thị Như Q được ly hôn với anh Lữ Quang T.

Về con chung: Chị Q và anh T có một con chung là cháu Lữ Quỳnh Như Y, sinh ngày 23 tháng 11 năm 2020, hiện đang sống với chị Q. Sau khi ly hôn, con chung giao cho chị Q trực tiếp nuôi. Ghi nhận chị Q không yêu cầu anh T cấp dưỡng cho con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Trong T hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được pháp luật quy định, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cấp dưỡng cho con. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Q và anh T trình bày không có tài sản chung, không yêu cầu chia tài sản nên không giải quyết.

Về nợ chung: Chị Q và anh T trình bày không có nợ chung, không yêu cầu giải quyết nợ chung nên không giải quyết.

Về án phí: Chị Q có nghĩa vụ chịu là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012124 ngày 26 tháng 5 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

T hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ