vanban.org

Bản án 18/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử cho chị Phạm Thị H được ly hôn đối với anh Nguyễn Thành T. Quan hệ hôn nhân của chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Thành T chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Về con chung: Giao cho chị Phạm Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Gia B sinh ngày 01/3/2023 đến khi cháu B đủ 18 tuổi và giao cho anh Nguyễn Văn T1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Mỹ D sinh ngày 15/6/2021 đến khi cháu D đủ 18 tuổi. … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bản án Hồng - Tâm"
  • Tòa quyết gì? Xử cho chị Phạm Thị H được ly hôn đối với anh Nguyễn Thành T. Quan hệ hôn nhân của chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Thành T chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NHO QUAN
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:18 /2025/HNGĐ-ST
Ngày: 01/4/2025
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
chung khi ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHO QUAN, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Nhàn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Khắc Thái

Bà Nguyễn Thị Phương Thiệu

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bình Thư ký Toà án nhân dân huyện Nho Quan

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Nho Quan tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Ngần– Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 08/2025/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 01 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2025/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị H sinh năm 1997; Địa chỉ: Xóm G, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Bị đơn : Anh Nguyễn Thành T sinh năm 1993; địa chỉ:Thôn Q, xã Q, huyện N, tỉnh Ninh Bình (Vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn chị Phạm Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh T được tự do tìm hiểu và tự nguyện đi đăng ký kết hôn ngày 26/7/2021 tại UBND xã Q, huyện N, tỉnh Ninh Bình Sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống hòa thuận hạnh phúc đến tháng 11 năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh chị không có tiếng nói chung, thường xuyên đánh chửi nhau và xúc phạm nhau. Trong thời gian sinh sống hai vợ chồng chị mâu thuẫn càng trầm trọng khiến không khí gia đình căng thẳng. Kể từ tháng 11/2024, chị H và anh T đã ly thân cho đến nay. Chị H thấy đến nay mâu thuẫn đã căng thẳng, trầm trọng không còn ai quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Nên chị làm đơn này đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Thành T.

Về con chung chị H và anh T có 02 con chung là cháu Nguyễn Mỹ D sinh ngày 15/6/2021 hiện nay đang ở với anh Nguyễn Thành T; cháu Nguyễn Gia B sinh ngày 01/3/2023 hiện nay đang ở với chị H. Khi ly hôn chị H có nguyện vọng được nuôi cháu Nguyễn Gia B đến khi cháu đủ 18 tuổi và giao cho anh Nguyễn Thành T nuôi cháu Nguyễn Mỹ D đến khi cháu D đủ 18 tuổi và về cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và công nợ chung: không có nên chị H không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại Đơn xin xét xử vắng mặt chị Phạm Thị H vẫn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Thành T vì tình cảm anh chị không còn. Về con chung khi ly hôn chị H có nguyện vọng được nuôi cháu Nguyễn Gia B đến khi cháu đủ 18 tuổi và giao cho anh Nguyễn Thành T nuôi cháu Nguyễn Mỹ D đến khi cháu D đủ 18 tuổi và về cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và công nợ chung chị H không đề nghị tòa án giải quyết.

Lời trình bày của bị đơn: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị đơn anh Nguyễn Thành T mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt. Quá trình giải quyết Tòa án đã về làm việc tại gia đình anh T thì bố đẻ anh T đã có ý kiến trao đổi lại với Tòa án. Anh T đã nhận được thông báo thụ lý vụ án của Tòa án và đã biết việc chị H xin ly hôn nhưng hiện tại anh T đã thể hiện không muốn ly hôn nhưng nếu chị H quyết tâm thì tùy chị ấy muốn làm gì thì làm và con chung anh T và chị H có hai con chung là cháu D và cháu B. Hiện nay cháu B đang ở với mẹ. Cháu D đang ở với bố. Khi ly hôn anh T có nguyện vọng được nuôi cháu D và chị H nuôi cháu B không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, công nợ chung: không yêu cầu tòa án giải quyết.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Nho Quan tham gia tố tụng tại phiên tòa giải quyết vụ án sơ thẩm phát biểu ý kiến:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 5, Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết 326 ngày30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và xử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Xử cho chị Phạm Thị H được ly hôn đối với anh Nguyễn Thành T.

2. Về con chung: Giao cho chị Phạm Thị H trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục đối với cháu Nguyễn Gia B sinh ngày 01/3/2023 cho đến khi cháu B đủ 18 tuổi.

Giao cho anh Nguyễn Thành T nuôi cháu Nguyễn Mỹ D sinh ngày 15/6/2021 đến khi cháu D đủ 18 tuổi

Về cấp dưỡng nuôi con: Không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

“Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở giáo dục con; Cha mẹ không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con”

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về tài sản chung, công nợ chung: chị Phạm Thị H không yêu cầu, không xem xét giải quyết.

4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: chị Phạm Thị H phải nộp toàn bộ án phí ly hôn là 300.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chị cục thi hành án dân sự huyện Nho Quan.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên Hội đồng xét xử nhận định các vấn đề phải giải quyết trong vụ án như sau:

.Về áp dụng pháp luật tố tụng:

Quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là quan hệ ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn; Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo khoản 1 Điều 28, Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

- Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Phạm Thị H có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải. Theo khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án không tiến hành hòa giải là có căn cứ.

- Ngày 25/02/2025 là nguyên đơn chị Phạm Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt. Theo quy định Điều 227; Khoản 1, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị H.

- Anh Nguyễn Thành T là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Vì vậy tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh T theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự

.Về áp dụng pháp luật nội dung:

.Về quan hệ hôn nhân: chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Thành T được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn vào 26/7/2021 tại UBND xã Q, huyện N, tỉnh Ninh Bình trên cơ sở tự nguyện đây là cuộc hôn nhân hợp pháp cần được pháp luật bảo vệ. Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 31 ngày 26/7/2021. Đây là hôn nhân hợp pháp theo Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình.

Sau khi kết hôn vợ chồng chị H và anh T chung sống hòa thuận hạnh phúc được đến khoảng 11/2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh chị không có tiếng nói chung, thường xuyên đánh chửi nhau và xúc phạm nhau. Trong thời gian sinh sống hai vợ chồng anh chị mâu thuẫn càng trầm trọng khiến không khí gia đình căng thẳng. Tháng 11 năm 2024 chị H và anh T đã sống ly thân mỗi người ở một nơi cho đến nay mâu thuẫn đã căng thẳng, trầm trọng không còn ai quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa nên chị H đề nghị xin ly hôn anh T. Quá trình giải quyết anh T đã thể hiện không muốn ly hôn nhưng nếu chị H quyết tâm thì tùy chị H muốn làm gì thì làm. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa anh T và chị H là có thực và anh chị hiện nay không còn sinh sống cùng nhau đã lâu nên thấy tình trạng hôn nhân của chị H và anh T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng sống ly thân chị H không còn ở nhà anh T mà về nhà mẹ đẻ ở xã Y, huyện Y từ năm 2024 ở cho đến nay, không ai quan tâm đến cuộc sống của nhau; chính quyền địa phương nơi anh T cư trú cũng xác nhận có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện N, nguyên nhân mâu thuẫn thì chính quyền địa phương không nắm được tuy nhiên cuộc sống hằng ngày có sự việc vợ chồng cãi chửi nhau. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận đơn khởi kiện của chị H, xử cho chị Phạm Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Thành T là phù hợp Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

.Về con chung: Chị H và anh T có 02 con chung là cháu Nguyễn Mỹ D sinh ngày 15/6/2021 hiện nay đang ở với anh Nguyễn Thành T; cháu Nguyễn Gia B sinh ngày 01/3/2023 hiện nay đang ở với chị H. Khi ly hôn chị H có nguyện vọng được nuôi cháu Nguyễn Gia B đến khi cháu B đủ 18 tuổi và giao cho anh Nguyễn Thành T nuôi cháu Nguyễn Mỹ D đến khi cháu D đủ 18 tuổi và về cấp dưỡng không yêu cầu anh T cấp dưỡng. anh T có ý kiến khi ly hôn anh T có nguyện vọng được nuôi cháu D và chị H nuôi cháu B không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy cả anh T và chị H có việc làm, có thu nhập ổn định, đủ điều kiện đảm bảo cuộc sống cho các cháu. Vì vậy, căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình, nguyện vọng được nuôi con của anh T và chị H là chính đáng tuy nhiên để đảm bảo quyền lợi và điều kiện sống của các cháu được học tập và giáo dục tốt nhất. Hội đồng xét xử thấy rằng cần giao cho chị Phạm Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Gia B sinh ngày 01/3/2023 đến khi cháu B đủ 18 tuổi và giao cho anh Nguyễn Văn T1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Mỹ D sinh ngày 15/6/2021 đến khi cháu đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con: không yêu cầu do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

.Về tài sản chung, công nợ chung: Chị H không yêu cầu do vậy Hội đồng xét xử không xem xét

.Về án phí: Chị Phạm Thị Hồng C án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51, khoản 2 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 147, điểm b, khoản 2 Điều 227, Khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và xử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Xử cho chị Phạm Thị H được ly hôn đối với anh Nguyễn Thành T. Quan hệ hôn nhân của chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Thành T chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Giao cho chị Phạm Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Gia B sinh ngày 01/3/2023 đến khi cháu B đủ 18 tuổi và giao cho anh Nguyễn Văn T1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Mỹ D sinh ngày 15/6/2021 đến khi cháu D đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con: không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

“Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở giáo dục con; Cha mẹ không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con”

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về tài sản chung, công nợ chung: Tòa án không xem xét.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Phạm Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số BLTU/23/0001449 ngày 09 tháng 01năm 2025.

Án xử công khai sơ thẩm chị H và anh T1 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lâm Thị Thanh Nhàn

Cỡ chữ