- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chi L xin ly hon anh A"
- Tòa quyết gì? [1]. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Triệu Thị L được ly hôn anh Trần Ngọc A.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2025/HNGĐ-ST Ngày 17/01/2025. V/v: “Tranh chấp về Hôn nhân và gia đình”. |
NHÂN DANH
NƯỚC C XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ-TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trần Việt Dũng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Việt Tú và ông Nguyễn Văn Trò
- Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Hải – Thẩm phán Toà án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê tham gia phiên toà: Ông Hà Đức Anh - Kiểm sát viên
Ngày 17 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 11/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 6a/2024/QĐXXST – HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2024/QĐST – HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Triệu Thị L, sinh năm 2001.
Địa chỉ: Khu C, xã T(nay là xã M), huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.
- Bị đơn: Anh Trần Ngọc A, sinh năm: 2000
Địa chỉ: Khu C, xã T( nay là xã M), huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.
(Chị L có đơn xin giải quyết vắng mặt, anh A vắng mặt lần 2 không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Tại đơn khởi kiện ngày 11/3/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Triệu Thị L trình bày: Chị và anh Trần Ngọc A kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 12/4/2021 tại UBND xã T(nay là xã M), huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ. Trước khi kết hôn được tự nguyện tìm hiểu, sau khi kết hôn vợ chồng ở chung với bố mẹ anh A tại khu C, xã T(nay là xã M), huyện Cẩm Khê. Qúa trình chung sống, tình cảm vợ chồng hoà thuận hạnh phúc được hơn 1 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống nên xảy ra tranh cãi bất hoà. Do mâu thuẫn căng thẳng nên chị và anh A đã sống ly thân từ tháng 2 năm 2023 đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Nay chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng không thể khắc phục được, nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh A để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Chị L và anh A có 02 con chung là Trần Duy H, sinh ngày 10/9/2021 và Trần Mẫn T, sinh ngày 22/001/2023, hiện nay 2 con đang ở cùng với anh A và bố mẹ đẻ anh A. Khi ly hôn, chị L đề nghị giao 2 con chung cho anh A trực tiếp nuôi dưỡng và cấp dưỡng nuôi con cùng anh A là 3.000.000đ/ 02 con chung/ tháng.
Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản; công sức: Chị L không yêu cầu giải quyết.
2. Phía bÞ ®¬n anh Trần Ngọc A: Toà án nhân dân huyện Cẩm Khê đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, báo anh A đến làm việc nhiều lần nhưng anh A đều vắng mặt, do vậy hồ sơ không thể hiện quan điểm của anh A
3. Tại biên bản ghi lời trình bày của ông Trần Văn M (Bố đẻ anh A), ông M cho biết như sau: Anh A là con trai ông, chị L là con dâu. Chị L và anh A kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T(nay là xã M), huyện Cẩm Khê. Sau khi kết hôn anh chị ở cùng vợ chồng ông tại khu C, xã T(nay là xã M), huyện Cẩm Khê. Quá trình chung sống của L và anh A ông không rõ anh chị có mâu thuẫn không nhưng từ đầu năm 2023, chị L đã tự ý bỏ đi làm thuê sau đó đi luôn đến nay, chị L và anh A cũng sống ly thân từ đó. Nay chị L yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn với anh A, đề nghị Toà án giải quyết theo đơn của chị L. Các văn bản tố tụng do Toà án tống đạt, ông M nhận thay anh A và cam kết giao lại cho anh A.
Về con chung: Chị L và anh A có 01 con chung là Trần Duy H, sinh ngày 10/9/2021 và Trần Mẫn T, sinh ngày 22/001/2023, hiện nay đang do vợ chồng ông Mai chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh A đi làm thuê và gửi tiền về cho ông bà nuôi con. Nếu chị L và anh A ly hôn, ông M đề nghị Tòa án giao con cho anh A và vợ chồng ông trực tiếp nuôi vì chị L không quan tâm đến con chung.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký: Từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Thư ký đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Việc thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Đúng thành phần, đúng quy định từ khi mở phiên toà cho đến khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án.
Về việc tuân theo pháp luật của đương sự: Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn không chấp hành đúng quy định của pháp luật, không có mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án là vi phạm quy định tại khoản 15, 16 Điều 70; Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58; Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 1, Điều 28; điểm a, khoản 1, điều 35; điểm a, khoản 1, điều 39; khoản 4 điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Triệu Thị L được ly hôn anh Trần Ngọc A.
Về con chung: Giao con chung Trần Duy H, sinh ngày 10/9/2021 cho anh A trực tiếp nuôi dưỡng. Giao con chung Trần Mẫn T, sinh ngày 22/01/2023 cho Chị Triệu Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, kể từ khi vợ chồng ly hôn đến khi con chung thành niên (Đủ 18 tuổi). Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản; công sức: Chị L không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Chị L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng dân sự:
. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là vụ án tranh chấp về Hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1, điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
. Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn anh Trần Ngọc A có hộ khẩu thường trú tại khu C, xã T(nay là xã M), huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ. Căn cứ điểm a, khoản 1, điều 35; điểm a, khoản 1, điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.
. Về sự vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn: Chị L có đơn đề nghị giải quyết xét xử vắng mặt. Bị đơn anh A đã được Toà án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh A vắng mặt lần thứ 02 tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
. Về nội dung: Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được xem xét tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận thấy:
. Về quan hệ hôn nhân: Chị Triệu Thị L và anh Trần Ngọc A kết hôn ngày 12/4/2021, có đăng ký kết hôn tại UBND T(nay là xã M), huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ. Hôn nhân giữa chị L và anh A được xác lập trên cơ sở tự nguyện do đó là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình giải quyết vụ án, qua lời trình bày của chị L, ông Mai bố đẻ anh A và việc xác minh tình trạng hôn nhân giữa chị L và anh A tại UBND xã T(nay là xã M) thì xác định được Hôn nhân của chị L và anh A không hoà thuận hạnh phúc, có xảy ra mâu thuẫn và hiện đang sống ly thân, không L lạc, không quan tâm đến nhau, nguyên nhân do không vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, dẫn đến xảy ra tranh cãi, bất hoà. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hơn nữa, quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để anh A đến Toà án làm việc, trình bày quan điểm ý kiến cũng như hòa giải quan hệ hôn nhân nhưng anh A đều vắng mặt, thể hiện anh A không mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do vậy cần xử cho chị L được ly hôn anh A là phù hợp thực tế và đúng với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị L và anh A có 02 con chung là Trần Duy H, sinh ngày 10/9/2021 và Trần Mẫn T, sinh ngày 22/01/2023, hiện nay đang ở cùng anh A. Quá trình giải quyết vụ án, không có quan điểm của anh A về con chung. Chị L đề nghị giao 2 con chung cho anh A trực tiếp nuôi dưỡng và cấp dưỡng nuôi con cùng anh A là 3.000.000đ/ 02 con chung/ tháng. HĐXX nhận thấy, con chung là Trần Mẫn T còn nhỏ, dưới 36 tháng tuổi, chị L đủ điều kiện nuôi con do vậy căn cứ khoản 3 điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, cần giao cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Anh A trực tiếp nuôi dưỡng con chung Trần Duy H. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho ai là phù hợp.
. Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản; công sức: Chị L không yêu cầu giải quyết nªn Hội đồng xét xử kh«ng xem xÐt.
. Về án phí: Chị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58; Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 1, Điều 28; điểm a, khoản 1, điều 35; điểm a, khoản 1, điều 39; khoản 4 điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
[1]. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Triệu Thị L được ly hôn anh Trần Ngọc A.
[2]. Về con chung: Giao cho chị Triệu Thị L trực tiếp nuôi dưỡng con chung Trần Mẫn T, sinh ngày 22/01/2023. Giao cho anh Trần Ngọc A trực tiếp nuôi dưỡng con chung Trần Huy H, sinh ngày 10/9/2021, kể từ khi vợ chồng ly hôn cho đến khi con chung thành niên (Đủ 18 tuổi). Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho ai.
Các bên có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.
[3]. Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản; công sức: Chị Triệu Thị L không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4]. Về án phí: Chị Triệu Thị L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. nhưng được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0004961 ngày 08/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê. Xác nhận chị L đã nộp đủ tiền án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
[5]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự (vắng mặt) có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc được niêm yết bản án để đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo trình tự phúc thẩm./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện; - Các đương sự - UBND xã M; - Thi hành án dân sự; - Lưu HS+ VP; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Việt Dũng |