- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị H - Lê Văn B"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thanh H, xác định anh Lê Văn B, sinh năm 1991; nơi cư trú: Thôn Xa Vệ, xã Hoằng Phú (xã Hoằng Trung, huyện Hoằng Hóa cũ), tỉnh Thanh Hóa; Số CCCD: xxxxxxxxxxxx là cha đẻ của các cháu: Cháu Lê Trần Bảo N, sinh ngày 22/6/2017 tại Bệnh viện R…
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 18/2025/HNGĐ-ST Ngày: 25/8/2025 V/v: Tranh chấp về xác nhận cha cho con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:
Bà Lê Thị Ngọc Vân
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Bỉnh Quyền
Ông Bùi Khắc Dương
Thư ký phiên toà: Bà Lê Thu Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Thanh Hóa.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Đỗ Diệu Linh – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2025 tại Toà án nhân dân khu vực 4 – Thanh Hóa (cơ sở 2) xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý: 174/2025/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2025 về việc “Tranh chấp về xác nhận cha cho con” của Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa, nay là Tòa án nhân dân khu vực 4 – Thanh Hóa theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06/8/2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trần Thanh H, sinh năm 1995 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn V, xã P, tỉnh Thanh Hóa.
Bị đơn: Anh Lê Văn B, sinh năm 1991 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn V, xã P, tỉnh Thanh Hóa.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Viết M, sinh năm 1993 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn T, xã N, TP Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 09/6/2025, các lời khai, trình bày có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Trần Thanh H trình bày:
Năm 2012, chị H kết hôn cùng anh Nguyễn Viết M, do có mâu thuẫn nên từ năm 2014, chị H và anh M đã sống ly thân. Sau đó, chị H có phát sinh quan hệ tình cảm với anh Lê Văn B. Ngày 22/6/2017, chị H sinh cháu gái đặt tên là Lê Trần Bảo N (theo giấy chứng sinh số 34, quyển số 02 ngày 27/6/2017 của Bệnh viện R); Ngày 23/3/2019, chị H sinh cháu gái, đặt tên là Lê Trần Kỳ Th (theo giấy chứng sinh MS: 01/BV-01 ngày 23/3/2019 của Bệnh viện N). Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các cháu, chị H đề nghị Tòa án xác định các cháu: Cháu Lê Trần Bảo N, sinh ngày 22/6/2017 (theo giấy chứng sinh số 34, quyển số 02 ngày 27/6/2017 của Bệnh viện R, được Bệnh viện R cấp lại giấy chứng sinh ngày 16/6/2025) và cháu Lê Trần Kỳ Th, sinh ngày 23/3/2019 (theo giấy chứng sinh MS: 01/BV-01 ngày 23/3/2019 của Bệnh viện N, được Bệnh viện N cơ sở 1 cấp lại giấy chứng sinh số 17131/25, quyển số 06/2025 ngày 11/6/2025) là con đẻ của anh Lê Văn B.
Quá trình giải quyết vụ án, anh Lê Văn B trình bày:
Vào năm 2016, anh B có quen biết và phát sinh quan hệ tình cảm với chị Trần Thanh H, sau đấy chị H có thai, thời gian này cho đến năm 2020, anh B đều không biết chị H đã có gia đình và đang trong mối quan hệ vợ chồng với anh Nguyễn Viết M. Ngày 22/6/2017, chị H sinh cháu Lê Trần Bảo N tại Bệnh viện R (giấy chứng sinh số 34, quyển số 02 ngày 27/6/2017 – được cấp lại giấy chứng sinh ngày 16/6/2025); ngày 23/3/2019, chị H sinh cháu Lê Trần Kỳ Th tại Bệnh viện N (giấy chứng sinh MS: 01/BV – 01 ngày 23/3/2019, được cấp lại giấy chứng sinh số 17131/25, quyển số 06/2025 ngày 11/6/2025). Anh B xác nhận và yêu cầu Tòa án công nhận cháu Lê Trần Bảo N, sinh ngày 22/7/2017 tại Bệnh viện R và cháu Lê Trần Kỳ Th, sinh ngày 23/3/2019 tại Bệnh viện N là con đẻ của anh B.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập nhưng anh Nguyễn Viết M không đến Tòa án làm việc. Tòa án đã về tại địa phương thôn T, xã N, TP Hà Nội để tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án và làm việc trực tiếp với anh Nguyễn Viết M, nhưng anh M vắng mặt tại nơi cư trú. Tòa án đã làm việc trực tiếp với bố đẻ anh M là ông Nguyễn Viết M1, Ông M1 cho biết: Thời điểm chị Trần Thanh H sinh các cháu Lê Trần Bảo N (ngày 22/6/2017 và cháu Lê Trần Kỳ Th (23/3/2019) thì anh Nguyễn Viết M đang chấp hành án tại cơ sở giam giữ. Trước đó, từ khoảng năm 2016 chị H đã đi khỏi gia đình ông và theo thông tin từ anh M thì suốt thời gian từ năm 2016 cho đến khi chị H và anh M ly hôn, anh chị không gặp nhau nên các cháu Lê Trần Bảo N và Lê Trần Kỳ Th không phải là con của anh Nguyễn Viết M. Hiện tại anh M đang đi làm ăn xa, không có mặt tại gia đình, địa chỉ cụ thể của anh M thì gia đình không nắm được nhưng anh M thường liên lạc điện thoại với gia đình. Ông M1 tự nguyện nhận thay anh M các văn bản tố tụng của Tòa án và cam đoan thông tin ngay toàn bộ nội dung các văn bản đến anh M.
Kết quả phân tích ADN số 25614.1IG/DNA ngày 20/6/2025 của Công ty TNHH Đầu tư và công nghệ G thực hiện giám định ADN giữa anh Lê Văn B – bị đơn trong vụ án và cháu có tên dự kiến: Lê Trần Bảo N, sinh ngày 22/6/2017; Giấy chứng sinh số 34, quyển số 02 ngày 16/6/2025 của Bệnh viện R có quan hệ huyết thống bố - con.
Kết quả phân tích ADN số 25614.2IG/DNA ngày 20/6/2025 của Công ty TNHH Đầu tư và công nghệ Genplus thực hiện giám định ADN giữa anh Lê Văn B – bị đơn trong vụ án và cháu có tên dự kiến Lê Trần Kỳ Th, sinh ngày 23/3/2019; Giấy chứng sinh số 17131/25, quyển số 06/2025 ngày 11/6/2025 của Bệnh viện N có quan hệ huyết thống bố - con.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Thanh Hóa trình bày quan điểm:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, đảm bảo thời hạn chuẩn bị xét xử. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình nhưng người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Tòa án xác định anh Lê Văn B là cha đẻ của các cháu: cháu Lê Trần Bảo N, sinh ngày 22/6/2017 (Giấy chứng sinh số 34, quyển số 02 ngày 16/6/2025 của Bệnh viện R) và cháu Lê Trần Kỳ Th, sinh ngày 23/3/2019 (Giấy chứng sinh số 17131/25, quyển số 06/2025 ngày 11/6/2025 của Bệnh viện N). Về án phí: Đề nghị miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho đương sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Trần Thanh H khởi kiện yêu cầu Tòa án xác nhận quan hệ cha con giữa anh Lê Văn B và các cháu có tên dự kiến là Lê Trần Bảo N, Lê Trần Kỳ Th; bị đơn – anh Lê Văn B có địa chỉ tại huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa cũ, đây là quan hệ tranh chấp về xác định cha cho con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa, nay là Tòa án nhân dân khu vực 4 – Thanh Hóa theo quy định tại khoản 4 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về sự có mặt, vắng mặt của đương sự.
Nguyên đơn, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt.
Tại phiên tòa ngày 18/8/2025, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan – anh Nguyễn Viết M vắng mặt không có lý do, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Hội đồng xét xử tạm hoãn phiên tòa và đã tống đạt ngay văn bản tố tụng tới anh M thông qua bố đẻ là ông Nguyễn Viết Minh – Tòa án cũng đã xác minh và Ông M1 cam đoan sau khi nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án đã thông tin ngay nội dung văn bản và giao ngay văn bản đến anh M đầy đủ. Tại phiên tòa lần thứ hai, anh M vắng mặt không có lý do.
Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Trong thời gian từ năm 2016 đến năm 2019, chị Trần Thanh H và anh Lê Văn B đã phát sinh quan hệ tình cảm. Ngày 22/6/2017, chị H sinh cháu Lê Trần Bảo N tại Bệnh viện R (giấy chứng sinh số 34, quyển số 02 ngày 27/6/2017 – được cấp lại giấy chứng sinh ngày 16/6/2025); ngày 23/3/2019, chị H sinh cháu Lê Trần Kỳ Th tại Bệnh viện N (giấy chứng sinh MS: 01/BV – 01 ngày 23/3/2019, được cấp lại giấy chứng sinh số 17131/25, quyển số 06/2025 ngày 11/6/2025). Thời điểm sinh các cháu Lê Trần Bảo N và Lê Trần Kỳ Th, chị H đang có quan hệ hôn nhân với anh Nguyễn Viết M. Chị Trần Thanh H và anh Lê Văn B đều xác định anh Lê Văn B là cha đẻ của các cháu Lê Trần Bảo N và Lê Trần Kỳ Th; anh Nguyễn Viết M đã nhận được toàn bộ thông tin vụ án, nhưng không trình bày bất kỳ quan điểm, ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của chị H. Kết quả phân tích ADN đã kết luận: Anh Lê Văn B có quan hệ huyết thống bố - con với các cháu có tên dự kiến Lê Trần Bảo N và Lê Trần Kỳ Th. Đủ cơ sở khẳng định anh Lê Văn B là cha đẻ của các cháu có tên dự kiến: Lê Trần Bảo N và Lê Trần Kỳ Th.
. Về án phí: Vụ án này thuộc trường hợp được miễn tiền án phí theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 88, Điều 89, Điều 91 của Luật Hôn nhân và gia đình của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thanh H, xác định anh Lê Văn B, sinh năm 1991; nơi cư trú: Thôn Xa Vệ, xã Hoằng Phú (xã Hoằng Trung, huyện Hoằng Hóa cũ), tỉnh Thanh Hóa; Số CCCD: xxxxxxxxxxxx là cha đẻ của các cháu: Cháu Lê Trần Bảo N, sinh ngày 22/6/2017 tại Bệnh viện R (giấy chứng sinh số 34, quyển số 02 ngày 27/6/2017 – được cấp lại giấy chứng sinh ngày 16/6/2025) và cháu Lê Trần Kỳ Th, sinh ngày 23/3/2019 tại Bệnh viện N (giấy chứng sinh MS: 01/BV – 01 ngày 23/3/2019, được cấp lại giấy chứng sinh số 17131/25, quyển số 06/2025 ngày 11/6/2025).
3. Về án phí: Đương sự được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND khu vực 4 – Thanh Hóa; - THADS tỉnh Thanh Hóa; - Các đương sự. - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Ngọc Vân |